Phù thủy Koch cao tay

Văn hóa – Giải trí
Giữa phố Hàng Gai (Hà Nội) vẫn còn một cây đa cổ thụ cành lá xum xuê phủ lên mái đình thôn Cổ Vũ xưa. Cách đây bảy tám chục năm, thời Pháp thuộc, mỗi khi vào hè, cha tôi là tiên chỉ cùng Hội đồng Kỳ mục tổ chức lễ Kỳ An

Nhà bác học Robert Koch (1843 - 1910). 
Giữa phố Hàng Gai (Hà Nội) vẫn còn một cây đa cổ thụ cành lá xum xuê phủ lên mái đình thôn Cổ Vũ xưa. Cách đây bảy tám chục năm, thời Pháp thuộc, mỗi khi vào hè, cha tôi là tiên chỉ cùng Hội đồng Kỳ mục tổ chức lễ Kỳ An (còn gọi là lễ cầu an, cầu mát) để cầu xin các quan Ôn ở âm phủ tha chết cho dân sở tại. Từ tháng tư tháng năm, các quan gây ra những bệnh thiên thời đặc biệt là dịch tả, để bắt những người chết làm lính cõi âm. Lễ cầu an trên bàn thờ đặt mấy cỗ mũ ngũ sắc, vàng thoi và ngũ sắc mâm bồng hoa quả, xôi gà, trầu rượu. Dưới hương án là những nong đựng thoi vàng đã gỡ ra, những quần áo giấy, các quả nhót, mũ, kẹo bánh. Hai bên cá voi, ngựa giấy và các hình nhân thế mạng, ngoài sân có nồi cháo nóng. Đôi khi thầy cúng đến cúng ê a. Cúng xong, các quan viên hưởng lộc, trẻ con vào lấy kẹo bánh hoa quả, ai muốn lấy cháo thì múc. Cúng quan Ôn như vậy mà hè nào cũng nhiều người chết vì bệnh tả.

Vào khoảng những năm 1924-1925, chính mẹ tôi cũng bị chết vì bệnh tả. Tôi còn nhớ, dân phố chết khiếp vì các "ô tô xanh" của y tế thành phố đến rắc vôi bột và đưa xác chết đi chôn. Năm 1914, dịch tả hoành hành nhanh đến nỗi phải chôn người cho nhanh ở nghĩa địa Bạch Mai không kịp đóng áo quan. Năm 1930, theo con số không đầy đủ có 2.430 người chết vì bệnh tả ở Hà Nội. Những năm 1937 - 1938, nhiều ổ dịch tả được phát hiện ở Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình và ngoại ô Hà Nội như làng Đa Sỹ. Để phòng bệnh, chính quyền tăng cường tiêm chủng. Thời Pháp thuộc, khó ngăn chặn dịch tả lan rộng do dân trí thiếu ý thức vệ sinh và tình trạng sinh hoạt vật chất thiếu thốn, nhất là ở nông thôn.

Ở nước ta từ cách mạng 1945, phòng bệnh tốt nên ngăn chặn được dịch tả. Nhưng vẫn không triệt được hẳn. Cuối năm 2007 và 4 tháng đầu năm 2008, dịch tiêu chảy cấp vẫn diễn ra ở nhiều nơi có một tỷ lệ dương tính phẩy khuẩn tả.

Trong cuốn lịch sử y học (Nhà xuất bản Pháp Ellipses, Paris 1998) hai bác sĩ chuyên gia bệnh nhiệt đới C.Chastel và A.Cenac liệt kê 8 bệnh nhiễm trùng gây tai hoạ lớn cho nhân loại trong quá trình lịch sử, có ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật, tôn giáo, kinh tế và dân số: bệnh tả, sốt vàng da, dịch hạch, bệnh phong, sida, giang mai, lao, đậu mùa.

Bệnh tả có từ lâu ở Ấn Độ (trung châu sông Hằng) và Bănglađét trước khi lan ra ở châu Á, Phi và đến thế kỷ 19 thì đến châu Âu. Tính cho đến nay có 8 đợt đại dịch hoành hành ở các vùng rộng lớn. Đợt 1 từ 1820 đến 1823 ở Myanmar, Xiêm, Hoa Nam, các đảo Đông Tây Phi, bể Catpiên. Đợt 2 (1826 - 1837) tới châu Âu và Bắc Mỹ. Trong đợt 5 (1881 - 1896) tìm ra vi trùng tả, phòng chữa bệnh tốt hơn. Đợt 7 (1960 - 1991) xuất phát từ những đảo Cèlèbe (Indonesia) lan ra Nam Á, Liên Xô, Tiệp Khắc, châu Phi. Đợt 8 bắt đầu ở Pêru năm 1991 (3.000 người chết) lan khắp Nam Mỹ. Do hàng không phát triển, bệnh lây rất nhanh. Năm 1994, theo Tổ chức Y tế Thế giới có tới 384.000 ca, tăng hơn 1993. Việt Nam cũng nằm trong đợt này.

Bệnh tả lây rất nhanh qua đường tiêu hóa, thường biểu hiện bằng tiêu chảy, nôn nhiều, rối loạn nước và điện giải, trụy tim mạch, suy kiệt, tử vong nếu không kịp chữa. Thủ phạm là vi trùng loại phẩy khuẩn (hình cong như dấu phẩy)... Bác sĩ người Đức Robert Koch, giải thưởng Nobel tìm ra phẩy khuẩn tả (vibrio cholerae) trong khi Paster và môn sinh của ông chưa tìm ra.

Mặc dù các phương tiện điều trị có hiệu quả, các đợt đại dịch vẫn hoành hành ở các vùng kém vệ sinh, đặc biệt là các nơi có chiến tranh, tập hợp đông người như trại tị nạn, hoặc di chuyển hàng không. Nguy cơ dịch chưa chấm dứt, các quan ôn từ cõi âm vẫn rình mò. Nhưng phù thủy Koch rất cao tay, không cần lễ kỳ an nữa, "quan ôn" sợ rồi.
 
Hữu Ngọc

Ý kiến của bạn