Nữ giáo sư Pháp J.Gillon rất tự hào bởi nửa phần máu của mình là của bà mẹ Việt Nam (VN) cho. Chị đã dịch mấy tiểu thuyết tiếng Việt sang tiếng Pháp (của Nguyễn Khắc Trường, Vũ Trọng Phụng) và lãnh trách nhiệm Phó Giám đốc CID - Trung tâm tư liệu về VN ở Paris.
Tuần qua, chị có thư tín cho biết về một luận án tiến sĩ nhan đề Việt Nam 1918-1945: giới tính và hiện đại do tác giả Bùi Trần Phương trình bày ở trường Đại học Lyon 2 Lumière (tháng 2/2008). Chị Gillon đánh giá đây là một công trình quan trọng “để hiểu biết VN, không những về mặt lịch sử và dân tộc học, mà cả về mặt xã hội học, tâm lý học, dù chỉ về mặt chính trị”.
Khái niệm “hiện đại” đối với VN là thế nào? Nói một cách đơn giản, “hiện đại hóa” đối với ta có nghĩa là “phương Tây hóa”, đi ngược lại với truyền thống. Theo dòng lịch sử, quá trình này bắt đầu sự khẳng định mạnh mẽ từ khi Pháp xâm chiếm VN, qua đó văn hóa phương Tây “hiện đại” du nhập có hệ thống. Vì vậy, văn hóa truyền thống (văn hóa bản địa Đông Nam Á đã tiếp biến với văn hóa Trung Quốc trong 2000 năm) khi gặp văn hóa Pháp (phương Tây) và hiện đại hóa tuy giữ được bản sắc dân tộc có phần tiếp biến, có phần mất đi. Vấn đề phụ nữ thời Pháp thuộc (1918-1945) phải đặt trong khung cảnh ấy.
Dưới đây xin nêu những ý chính trong bản luận án Việt Nam 1918-1945, giới tính và hiện đại, qua nhận định của chị Gillon.
Tại sao lại chọn giai đoạn 1918-1945? Tác giả cho đó là thời điểm chủ yếu của sự hiện đại hóa VN, gây nên sự tiến hóa của tình trạng phụ nữ.
Công việc nghiên cứu rất phức tạp vì bản thân thực tế đầy mâu thuẫn. Tư tưởng Khổng giáo đậm màu sắc khinh nữ để dấu ấn trong tiềm thức dân chúng. Nhưng mặt khác, chế độ mẫu hệ trước khi Khổng học được du nhập cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến xã hội, khiến người nghiên cứu nhiều khi phân vân trước sự đối lập giữa hai tư tưởng ấy. Khổng học cấm nữ học hành, vậy mà một số nữ vẫn được đề cao qua các thời đại. Khổng học là lĩnh vực các nhà Nho, nhưng trên thực tế, phụ nữ trong gia đình vẫn giữ vai trò quan trọng.
Theo tư duy truyền thống, phụ nữ chỉ có vai trò làm vợ, làm mẹ trong khuôn khổ gia đình. Vậy mà tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu (lý tưởng hóa, thần thánh hóa người phụ nữ). Sự tích các Mẫu ở trần gian không thấy đề cao vai trò làm vợ, làm mẹ mà chỉ nêu những hành động xã hội, những sự can thiệp về cái thiện.
Nhân vật Kiều được nhân dân ưa thích không phải vì nàng là mẫu mực Khổng học, không phải là con ngoan (Kiều dám giao duyên với Kim Trọng vụng trộm cha mẹ), vợ hiền (hai lần làm đĩ, ba lần yêu, mặc dù giữ chữ trinh tâm hồn với mối tình đầu), mẹ tốt (không có con). Ưa thích và thương xót con người có tài (thơ, họa), sắc mà lận đận, biết hy sinh vì chữ hiếu, nhà thơ Nguyễn Du đã viết bản cáo trạng bênh vực cho phận đàn bà và được dân gian đồng tình.
“Giặc đến nhà đàn bà phải đánh”, truyền thống này tồn tại từ thời Bà Trưng. Thời Pháp thuộc, nhiều bà mẹ, bà vợ ủng hộ chồng con chống thực dân. Sau này trong hai cuộc kháng chiến, phụ nữ cầm súng hẳn hoi.
Một nghịch lý cuối cùng: chủ nghĩa thực dân vô hình chung đã tạo điều kiện cho phụ nữ VN tiến lên một bước. Thời thuộc địa, phụ nữ bị hai tròng áp bức: phong kiến (chế độ đa thê vẫn còn tồn tại cùng nhiều hủ tục khác) và thực dân. Vậy mà ngọn gió thổi vào phong tục tập quán Việt Nam nói chung nên trong nửa đầu thế kỷ 20 (1918-1945), “đợt sóng khẳng định vai trò phụ nữ và đấu tranh phụ nữ” đã dâng lên, canh tân tư duy (tự do yêu đương, nhân phẩm), y phục (áo dài), tập quán.
Theo chị Gillon, tác giả Bùi Trần Phương quá nhấn mạnh vai trò phụ nữ trong gia đình, chưa đề cập đến hình thức đấu tranh trực diện của nữ công nhân...