Phòng rối loạn kali- máu do thuốc

Rối loạn kali-máu ít khi xảy ra do ăn uống mà thường xảy ra do dùng thuốc, đặc biệt hay xảy ra ở người có “di truyền rối loạn kali-máu. Vì thế, việc phòng rối loạn kali-máu trong dùng thuốc là rất quan trọng.

Rối loạn kali-máu ít khi xảy ra do ăn uống mà thường xảy ra do dùng thuốc, đặc biệt hay xảy ra ở người có “di truyền rối loạn kali-máu. Vì thế, việc phòng rối loạn kali-máu trong dùng thuốc là rất quan trọng.

Sự nguy hiểm do rối loạn kali-máu    

Trong cơ thể, kali có tỷ lệ cao trong dịch nội tế bào, cùng với natri, canxi tạo ra điện sinh lý hoạt động tế bào, giữ vai trò quan trọng trong dẫn truyền thần kinh - cơ. Ngoài ra, kali còn giúp điều hòa chuyển hóa glucid, protid.

 Rối loạn kali - máu sẽ gây ra các tai biến tim mạch.
Kali thấm tương đối ít qua màng tế bào, thải trừ qua nước tiểu (80 -90%), phần nhỏ qua phân, không dự trữ trong cơ thể như natri, có khuynh hướng thoát ra khỏi tế bào trong khi có bệnh lý (choáng, bỏng rộng, chảy máu nhiều, suy thượng thận). Khi mất quá nhiều kali thì sẽ tăng natri trong tế bào, tăng bicarbonat trong dịch ngoài tế bào.

Nồng độ kali-máu trung bình 5nmol/ L (20mg%), tùy theo người, chế độ ăn, lượng kali dao động trong khoảng 3,5-5nmol/L; nếu <3nmol/L được coi là giảm, nếu >5nmol/L được coi là tăng kali - máu.

Rối loạn kaki-máu  gây các tai biến nghiêm trọng trên tim mạch như loạn nhịp, suy tim... đặc biệt khi kết hợp với loạn nhịp thất. Khi dùng liều càng cao, tần suất độ nặng của tai biến càng lớn.

Và cách phòng

Rối loạn kali-máu xảy ra tùy từng trường hợp dùng thuốc và có cách phòng ngừa riêng cho từng trường hợp đó.

Dùng thuốc lợi tiểu đơn trị tăng huyết áp: Trước đây, khi điều trị tăng huyết áp thường dùng thuốc lợi tiểu thiazid giúp bài tiết nước, giảm thể tích ngoại bào, thể tích huyết tương, gây giãn mạch thứ cấp dẫn tới hạ huyết áp. Do đó phải dùng thiazid với liều khá cao nên có thể gây hạ kali-máu. Ngày nay, người ta đã phát hiện thiazid gây ức chế  protein vận chuyển cặp natri-clo ở ống lượn xa, gây giãn mạch gián tiếp qua trung gian giãn mạch dẫn tới hạ huyết áp, nên dùng thiazid với liều thấp (chỉ 12,5mg/ngày, khi cần mới dùng tới 25mg/ngày) nên không gây bài tiết, giảm kali-máu đáng kể. Để phòng hạ kali-máu cần hiểu đúng cơ chế giảm huyết áp của thuốc lợi tiểu thiazid, dùng liều thấp theo chỉ dẫn, không cần bổ sung kali mà chỉ ăn đủ rau quả hay ăn thêm vài quả chuối là đủ.

Dùng thuốc lợi tiểu phối hợp với thuốc hạ huyết áp khác: Một trong các cách phối hợp là dùng thuốc lợi tiểu với ức chế men chuyển (UCMC). Bản thân UCMC làm giảm aldosteron nên gây tăng kali-máu. Nếu phối hợp UCMC với thuốc lợi tiểu tăng tiết kali nhẹ (thiazid) thì có thể điều hòa kali (theo kiểu bù trừ). Nếu phối hợp UCMC với thuốc lợi tiểu tiết kiệm kali (spironolacton) dễ làm tăng kali -máu (vì cộng hợp sự tăng của hai thuốc). Vì thế, tùy theo yêu cầu điều trị, khả năng đáp ứng, dung nạp của người bệnh mà chọn phối hợp loại UCMC và loại thuốc lợi tiểu thích hợp để vừa đạt yêu cầu hạ huyết áp nhưng không gây hạ huyết áp đột ngột, đồng thời không gây ra rối loạn kali máu. Thầy thuốc thường tính toán liều của mỗi thuốc, cho  khởi đầu với  liều thấp, rồi tăng dần đến mức đạt được các yêu cầu trên và cho người bệnh dùng liều  ổn định đó. Người bệnh cần tuân thủ liều, không tự ý tăng số lần dùng thuốc phối hợp (sẽ quá liều) cũng không được tăng giảm riêng một thứ nào (vì sẽ phá hỏng sự phối hợp).

Dùng thuốc lợi tiểu cho bệnh suy tim: Tùy theo thể suy tim mà thầy thuốc dùng các loại thuốc lợi tiểu khác nhau. Thí dụ trong suy tim nhẹ và vừa thường dùng loại bài tiết kali nhẹ (thiazid). Trong suy tim trái cấp, suy tim mạn thường dùng loại bài tiết kali mạnh (furosemid), đôi khi còn dùng nhóm tăng bài tiết kali nhẹ (thiazid) với nhóm tiết kiệm kali (spironolacton) nhằm bù trừ nhau. Ngoài ra, cũng tùy theo thuốc đang dùng trong suy tim mà chọn thuốc lợi tiểu thích hợp để tránh  tương tác bất lợi. Thí dụ, khi người suy tim đang dùng thuốc UCMC thì  không được dùng spironolacton (vì cả hai đều làm tăng  kali), trong  khi  đó có thể dùng thuốc lợi tiểu bài tiết kali được (vì sẽ tăng giảm kali bù trừ nhau).  Đây là cách chọn lựa tinh  tế của thầy thuốc, người bệnh cần tuân thủ, không tự ý thay đổi thuốc, liều dùng.

Không được phối hợp với tác nhân gây xoắn đỉnh: Rối loạn kali-máu là điều kiện thuận lợi gây xoắn đỉnh. Vì vậy, không dùng thuốc lợi tiểu cùng với các thuốc có tiềm năng gây xoắn đỉnh như thuốc chống dị ứng (terfenadin, astemisol), thuốc tim mạch (diisopyramid, quinidin, bretylium, amioda ron, vincamin), thuốc kháng sinh (erythromycin tĩnh mạch).

Một số người bị bệnh di truyền hạ kali-máu cần tránh dùng các thuốc bài tiết nhiều kali. Người bị di truyền tăng kali-máu cần tránh dùng thuốc làm tăng mạnh kali. Thầy thuốc căn cứ vào tiền sử người bệnh mà cho thuốc, liều lượng thích hợp và người bệnh cần tuân thủ. Ngoài ra, những người này cần có một chế độ ăn uống thích hợp như ăn cân đối các loại lipid, glucid,  protid, rau quả. Đối với người bị di truyền hạ kali-máu cần ăn nhiều thức ăn giàu kali, tránh nhiễm lạnh, tránh hoạt động quá sức, tránh ăn quá nhiều glucid (vì ăn nhiều glucid sẽ phải tiêu thụ nhiều kali) dẫn tới hạ kali-máu.       

DS. Bùi Văn Uy

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Phòng rối loạn kali- máu do thuốc

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT