Suy dinh dưỡng thấp còi (SDDTC) khá phổ biến tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Trong thời gian tới, việc hạ thấp tỷ lệ SDDTC là mục tiêu hàng đầu của Chiến lược dinh dưỡng quốc gia giai đoạn 2011 – 2020.
Nguyên nhân
Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới, hiện nay có khoảng 38% trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị SDDTC tức là chiều cao so với tuổi tương ứng không đạt đến mức bình thường theo quy định. Những trẻ em ngay khi sinh ra có chiều dài sơ sinh đo được thấp hơn chuẩn thì đến tuổi trưởng thành không thể đạt được chiều cao như mức tiềm năng của trẻ đó. Hơn nữa, những người bị SDDTC thường có nguy cơ tử vong cao, dễ mắc bệnh hơn so với người bình thường, đồng thời họ thường có biểu hiện chậm phát triển về trí tuệ, khả năng lao động thể lực cũng kém hơn so với người bình thường.
Cho đến nay, người ta đã thống nhất cơ bản về nguyên nhân của tình trạng thấp còi gồm những ảnh hưởng đối với người mẹ ngay từ thời kỳ trước khi mang thai đến giai đoạn cho con bú và đối với trẻ em dưới 3 tuổi như sau: vai trò của dinh dưỡng (cơ thể được cung cấp thiếu về năng lượng, thiếu các chất dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng, có các chất độc hại trong môi trường ảnh hưởng đến tăng trưởng); bị nhiễm các bệnh do vi khuẩn; chế độ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em kém, nhất là chăm sóc dinh dưỡng người mẹ, sinh con quá sớm hay quá muộn so với tuổi, đẻ nhiều con, khoảng cách các lần sinh quá ngắn, trẻ không được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đầy đủ.
Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn cho trẻ uống vitamin A tại Lễ phát động Ngày vi chất dinh dưỡng toàn quốc. Ảnh: CTV |
Thực trạng tại Việt Nam
Tỷ lệ SDDTC được coi là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng sinh học của con người và phản ánh sự phát triển kinh tế-xã hội. Tỷ lệ SDDTCTE dưới 5 tuổi nước ta đã giảm nhiều trong những năm qua, nhưng hiện vẫn còn ở mức 29,3% (năm 2010), nghĩa là cả nước còn khoảng 2,3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi ở tình trạng SDDTC. Riêng trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước, tỷ lệ SDDTC ở trẻ em dưới 5 tuổi giảm đi được 19,8%. Đầu những năm 90, các chuyên gia Ngân hàng Thế giới đã dự đoán, vào năm 2000 tỷ lệ thấp còi trẻ em nước ta sẽ là 45%, đến năm 2013 sẽ dưới 35% với điều kiện đạt mức tăng trưởng kinh tế liên tục các năm là 9%. Như vậy, SDDTCTE đã giảm đáng kể và nhanh hơn nhiều so với dự báo của các chuyên gia. Sự đầu tư của Chính phủ và chính quyền các cấp cho chương trình dinh dưỡng đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Tuy nhiên, những nguyên nhân khác về nuôi dưỡng cũng như môi trường vẫn còn là thách thức không nhỏ, đặc biệt cần kể đến là tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng cho cả phụ nữ trước khi có thai đến thời kỳ sinh con, cho con bú và cho chính những trẻ em dưới 3 tuổi. Trẻ em không được bú mẹ hoàn toàn trước 6 tháng tuổi cũng là một nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến tăng trưởng chiều cao.
Giải pháp
Hạ thấp tỷ lệ SDDTC - nguyên nhân chính làm hạn chế tầm vóc chiều cao người Việt Nam - được coi là mục tiêu ưu tiên trong Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020. Chiến lược mới cần tiếp tục phương châm dự phòng là chính, chăm sóc dinh dưỡng cho bà mẹ từ phụ nữ tiền thai đến khi mang thai và nuôi con nhỏ, trẻ em dưới 5 tuổi cần được cung cấp đủ năng lượng khẩu phần và các chất dinh dưỡng, chú ý đến vi chất dinh dưỡng đủ theo nhu cầu. Công tác xã hội hóa phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tiếp tục cần được đẩy mạnh để tạo điều kiện trẻ tăng trưởng tốt. Đặc điểm của SDDTC ở nước ta là phân bố không đồng đều theo từng địa phương, từng khu vực và thậm chí từng cộng đồng do khác nhau về kinh tế-xã hội cũng như ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên như thiên tai ở các vùng khác nhau. Điều đó đòi hỏi có các giải pháp ưu tiên khác nhau theo từng địa phương. Công tác giáo dục dinh dưỡng cần đi đôi với hướng dẫn thực hành, xây dựng “văn hóa nuôi dưỡng” của mọi gia đình. Mỗi người phụ nữ trước khi làm mẹ cần có được kiến thức và chủ động trong phòng chống thiếu dinh dưỡng cho bản thân và cho con mình.
Tóm lại, bên cạnh can thiệp vĩ mô của Nhà nước như các chính sách giảm đói nghèo, phát triển nông nghiệp, giáo dục, đảm bảo quyền người phụ nữ, đảm bảo dịch vụ y tế như tiêm chủng, theo dõi sức khỏe thường xuyên, đảm bảo vấn đề nước sạch, có chính sách thực phẩm an toàn và phát triển kinh tế hộ gia đình nghèo thì những can thiệp ngắn hạn cũng hết sức quan trọng. Những can thiệp đó là cần chăm sóc dinh dưỡng phụ nữ ngay tuổi vị thành niên, đảm bảo không thiếu các vi chất dinh dưỡng, nhất là thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt. Sau khi sinh, bà mẹ cần nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho bú đến ít nhất 1 năm tuổi, bà mẹ sau sinh uống vitamin A, trẻ từ 6-36 tháng tuổi được uống vitamin A định kỳ. Bên cạnh đó, các thực phẩm tiêu thụ hằng ngày cần được đa dạng, thay đổi thực phẩm thường xuyên để đồng thời với cung cấp đủ năng lượng, các chất dinh dưỡng cơ bản còn cung cấp đủ các vi chất dinh dưỡng. Chống nhiễm giun sán cũng rất quan trọng, cần tẩy giun định kỳ ở những nơi có nguy cơ cao. Tại hộ gia đình cần sử dụng muối iốt trong bữa ăn hằng ngày để đảm bảo không bị thiếu iốt dẫn đến kém tăng trưởng và các hậu quả về phát triển trí lực khác…
Lê Danh Tuyên (Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng)