Hiện nay nước ta có 54 dân tộc khác nhau cùng chung sống, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh chiếm gần 90% so với tổng số dân của cả nước; các dân tộc thiểu số Tày, Nùng, Mường, Thái, Khơ-me, Dao, Hoa... có số dân khoảng 40 vạn đến 1 triệu người; các dân tộc Ba-na, Hrê, Xơ-đăng-Gia-rai, Ê-đê, Chăm, Cờ-ho, Xtiêng, Khơ-mú, Sán chay, Sán dìu... có số dân trên dưới chục vạn người; một số dân tộc Ơ-đu, Rơ-măm, Rục, Si-la... dân số chỉ vài ba trăm người nhưng lại là đối tượng nguy cơ cao mắc bệnh sốt rét.
Điều kiện thuận lợi cho bệnh sốt rét phát triển ở cộng đồng dân tộc thiểu số
Nguồn sống kinh tế của đồng bào các dân tộc thiểu số là hoa màu, lúa rẫy là chủ yếu; do đặc điểm thường sống ở vùng rừng núi, vùng xa xôi hẻo lánh nên ít có điều kiện trồng lúa nước mà canh tác lúa rẫy theo phương pháp thủ công như đốt rẫy, chọc lỗ tra hạt, luân canh bỏ hóa nên thu nhập rất thấp. Từ điều kiện canh tác lạc hậu này, đồng bào không chỉ khó khăn về kinh tế, tỷ lệ hộ đói nghèo cao mà còn dễ bị nhiễm bệnh sốt rét do thường ngủ rẫy dài ngày vào các thời điểm mùa vụ dễ bị muỗi sốt rét đốt. Điều kiện chăn nuôi gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng), gia súc (trâu, bò, voi, ngựa) cũng mang tính nhỏ lẻ, nuôi dưới gầm sàn hoặc ngay cạnh nhà nên không bảo đảm vệ sinh. Cấu trúc nhà cửa của đồng bào dân tộc thiểu số ở các vùng sâu, vùng xa cũng hết sức tạm bợ, thường là nhà sàn nhỏ hẹp vách bằng phên tre, sàn làm bằng giát nứa đập không kín nên buổi tối ngủ màn cũng ít có tác dụng bảo vệ vì muỗi sốt rét có thể xâm nhập vào màn qua các khoảng hở để đốt người. Bên cạnh đó cách ăn mặc của đồng bào cũng hết sức đơn giản; ở Tây Nguyên đàn ông thường đóng khố, đàn bà mặc váy ở trần, đến khi hội hè mới mặc áo cộc tay hoặc dài tay theo kiểu chui đầu; bữa ăn thường chỉ có cơm với muối ớt, canh bầu bí, canh sắn hoặc canh rau rừng; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng rất cao nên sức chống đỡ bệnh tật kém.
Ở những vùng sâu, vùng xa và các vùng có dân di cư tự do; đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp không ít khó khăn, dịch vụ y tế chưa đảm bảo chất lượng nên nguy cơ mắc bệnh còn cao như nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp (ARI), sốt rét, tiêu chảy...; trong đó nguy cơ sốt rét ở các vùng này rất cao do còn có sự hiện diện của các véc tơ truyền bệnh chính (An. minimus, An. dirus) và các ổ ký sinh trùng lạnh, việc cắt đứt lan truyền bệnh sốt rét tự nhiên khó khăn do đồng bào ở các vùng này còn có tập tục đi rẫy và ngủ rẫy dài ngày, bên cạnh đó đồng bào các dân tộc ở vùng núi phía Bắc vào Tây Nguyên cũng tiếp thu điều kiện canh tác tương tự nên việc kiểm soát sốt rét rất khó khăn. Giải pháp duy nhất nhằm hạn chế tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết sốt rét cho các nhóm dân này chỉ là cấp thuốc tự điều trị và vận động họ khi có sốt cần chủ động đến các cơ sở y tế sớm để được khám bệnh và điều trị kịp thời.
Giải pháp hạn chế bệnh sốt rét ở cộng đồng dân tộc thiểu số
Những khó khăn về kiểm soát bệnh tật ở cộng đồng dân tộc thiểu số không chỉ riêng ở Việt Nam mà còn là khó khăn chung của nhiều quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy các đối tượng đích trong Chương trình đẩy lùi sốt rét (Roll Back Malaria) là dân tộc thiểu số và dân di cư tự do, trong vài năm qua Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn đã tham gia chương trình này thông qua Dự án Sốt rét Tiểu vùng sông Mê Kông (GMS) và thu được nhiều kinh nghiệm đáng kể trong phòng chống sốt rét cho đồng bào dân tộc Raglei ở Khánh Vĩnh (tỉnh Khánh Hòa)-nhóm dân có đặc thù ngủ rẫy rất cao và đã hạn chế được tỷ lệ mắc sốt rét ở mức rất thấp, tuy nhiên khi Dự án kết thúc, màng lưới cán bộ y tế cơ sở không được đầu tư thì tình hình kiểm soát bệnh tật lại khó khăn như trước.
Từ những vấn đề thực tế này cho thấy để đầu tư phòng chống sốt rét bền vững ở cộng đồng dân tộc thiểu số cần phải có nguồn kinh phí chi thường xuyên để hỗ trợ không chỉ cho người nghèo bị mắc bệnh tật mà còn chi cho cả đội ngũ cán bộ y tế cơ sở (xã, thôn bản) để họ có thể yên tâm phục vụ lâu dài, nên có các đội y tế lưu động (bao gồm cả bệnh viện) có những đợt thăm khám, phát hiện và quản lý bệnh tật tại nhà để giảm thiểu chi phí đi lại do đường xa, chi phí cho người nhà đi theo phục vụ bệnh nhân...; điều quan trọng nhất là cần xây dựng những mô hình mang tính khả thi cho việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa.
TS. Triệu Nguyên Trung