Phòng chống HIV/AIDS: “Quả đấm thép” phát huy tác dụng

Tin nóng y tế
Là một trong 4 chương trình trọng tâm của Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS (giai đoạn 2001-2010), Chương trình Can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV được coi là “quả đấm thép”

Là một trong 4 chương trình trọng tâm của Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS (giai đoạn 2001-2010), Chương trình Can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV được coi là “quả đấm thép” làm hạn chế sự lây lan của dịch HIV trong nhóm có hành vi nguy cơ cao và từ các nhóm này ra cộng đồng. Các biện pháp triển khai bao gồm cung cấp và hướng dẫn sử dụng bao cao su, bơm kim tiêm sạch, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế...

Những nỗ lực...

Theo báo cáo của Bộ Y tế, thời điểm trước năm 2005, các hoạt động can thiệp giảm tác hại (phát bao cao su và trao đổi bơm kim tiêm) chỉ được tiến hành thí điểm tại những khu vực trọng điểm, trong các nhóm người có hành vi nguy cơ cao và người nhiễm HIV/AIDS... chưa nhận được sự quan tâm, ủng hộ tích cực của các cấp, các ngành và một bộ phận nhân dân. Hoạt động cấp phát bơm kim tiêm (BKT) và bao cao su (BCS) còn vướng mắc (liên quan đến luật pháp phòng chống tệ nạn xã hội), việc tiếp cận với người nghiện chích ma túy (NCMT) còn rất nhiều khó khăn...

Năm 2006, với sự ra đời của Chiến lược Quốc gia Phòng, chống HIV/AIDS, Luật phòng, chống HIV/AIDS và Nghị định số 108 (2007) đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc tăng cường, mở rộng các hoạt động can thiệp giảm tác hại toàn diện. Từ chỗ chỉ có 5 tỉnh (giai đoạn 2001-2004) triển khai Chương trình phân phát BCS và trao đổi BKT với qui mô nhỏ, tại các địa bàn có dự án thì đến năm 2010 đã có 60 tỉnh/thành phố triển khai phân phát BCS miễn phí, 43 tỉnh/thành phố trong cả nước tiến hành chương trình trao đổi BKT sạch với nhiều mô hình khác nhau: thông qua tuyên truyền viên đồng đẳng (TTVĐĐ); hộp (điểm) BKT cố định; phát BKT qua nhà thuốc, hiệu thuốc, trạm y tế; lồng ghép tại câu lạc bộ/điểm giáo dục sức khỏe... Số BKT phân phát tăng một cách đáng kể; 2 triệu vào năm 2006, 11 triệu năm 2007, 22 triệu năm 2008 và 27 triệu năm 2009...

Tính đến tháng 10/2010, Chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (methadone) đã được triển khai tại TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hà Nội, Cần Thơ và Đà Nẵng, điều trị cho 2.320 bệnh nhân. Từ việc thực hiện thành công Chương trình thí điểm điều trị methadone tại hai thành phố đầu tiên (Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh), Chính phủ quyết định mở rộng chương trình ra các tỉnh/thành phố khác với mục tiêu cung cấp dịch vụ cho 800.000 người sử dụng ma túy vào cuối năm 2015.

 Hướng dẫn dùng bao cao su đúng cách cho chị em tại công viên Trần Hưng Đạo, thành phố Phan Thiết (Bình Thuận).

Và hiệu quả

Theo Kết quả Điều tra Giám sát kết hợp hành vi và chỉ số sinh học - IBBS năm 2006 và 2009 (Bộ Y tế) cho thấy việc triển khai Chương trình can thiệp giảm tác hại đã giúp cho việc nâng cao nhận thức và cải thiện hành vi trong phòng chống HIV/AIDS và STI trong nhóm nguy cơ cao. Năm 2006, có 34,5% phụ nữ bán dâm (PNMD), 37.6% nam tiêm chích ma túy (TCMT) và 54,9% nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) đã xác định đúng cách phòng tránh HIV lây qua đường tình dục và loại bỏ được quan niệm sai lầm cơ bản về lây truyền HIV. Kết quả điều tra 3 năm sau (2009)cho thấy 54,7% PNMD, 47,6% nam TCMT và 53,6% MSM có được các kiến thức, hành vi trên. Tỉ lệ người NCMT sử dụng các dụng cụ tiêm chích tiệt trùng tăng lên từ 88,8% năm 2006 lên 93,5% năm 2009. Kết quả khảo sát do Dự án Phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam (WB), Dự án Phòng lây nhiễm HIV tại Việt Nam (DFID) năm 2008 cho thấy có trên 95% PNMD cho biết có sử dụng BCS với bạn tình trong lần quan hệ tình dục gần đây nhất.

Không chỉ nâng cao kiến thức và cải thiện hành vi, điều quan trọng các hoạt động này đã góp phần làm giảm tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm quần thể nguy cơ cao. Trước khi chương trình CTGTH được triển khai trên diện rộng, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT tăng nhanh từ 10,9% năm 1996 lên 29,3% vào năm 2002. Sau khi chiến lược ra đời và các hoạt động can thiệp được triển khai mạnh mẽ, tỉ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT đã giảm dần xuống còn 18,4% vào năm 2009. Đây là một bằng chứng thuyết phục về hiệu quả của Chương trình CTGTH cho nhóm NCMT và PNMD.

Nhận thức, quan điểm, thái độ của chính quyền các cấp, các ngành (công an, LĐTBXH) và cộng đồng trong công tác can thiệp giảm tác hại đã thay đổi và đã vận động họ cùng tham gia. Việc cấp BKT và BCS cho người NCMT và PNMD trước đây bị coi là hành động tiếp tay cho tệ nạn xã hội thì nay đã và đang nhận được sự đồng thuận, cảm thông, chia sẻ không chỉ ở các cấp lãnh đạo mà còn ở đông đảo các tầng lớp nhân dân. Họ đã hiểu được rằng đây là can thiệp cần thiết và hiệu quả trong dự phòng HIV lây lan ra cộng đồng. Năng lực hệ thống phòng chống HIV/AIDS tại các cấp từ đó được nâng lên thông qua hoạt động tập huấn, đào tạo và trực tiếp tham gia thực hiện các hoạt động can thiệp...

Với đặc điểm dịch HIV/AIDS ở nước ta vẫn đang trong giai đoạn tập trung nên định hướng của Bộ Y tế trong thời gian tới vẫn sẽ tiếp tục duy trì và đẩy mạnh, tiến tới từng bước xã hội hóa chương trình này.      

Thu Hương


Ý kiến của bạn