Vụ Snowden cho thấy rõ là trong lĩnh vực hoạt động gián điệp: các nước thuộc khối nói tiếng Anh là những bậc thầy. Sau Chiến tranh thế giới II, Mỹ và Vương quốc Anh đã ngầm ký kết với nhau các thỏa ước nhằm tổ chức một mạng lưới nghe trộm đa quốc gia dưới tên gọi ban đầu Ukusa (tên viết tắt của United Kingdom-United States Communication Intelligence Agreement). Tổ chức này còn được biết nhiều dưới tên khá ấn tượng “Fives Eyes” - nghĩa là năm con mắt, quy tụ năm cơ quan tình báo điện tử của 5 quốc gia nói tiếng Anh gồm Hoa Kỳ, Anh, Canada, Australia và New Zealand.
Như vậy, theo tiết lộ của Edward Snowden, mọi thư từ điện tử, dữ liệu hay văn bản phát đi từ châu Âu đến Hoa Kỳ đều có nguy cơ bị sao chép và xử lý bởi một hệ thống giám sát bằng tiếng Anh dưới tên mã là “Tempora”. Và thời hạn lưu trữ các thông tin đó là từ 3 ngày cho đến vĩnh viễn, tùy theo bản chất nội dung thư tín. Hai vụ khủng bố tại New York ngày 11/9/2001 là cái cớ để cho Hoa Kỳ hợp pháp hóa hơn nữa các hoạt động nghe trộm. Một đạo luật mới đã được thông qua cho phép hoạt động giám sát bí mật các mạng lưới điện thoại trong cũng như ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ ít lâu sau vụ khủng bố. Cụ thể̀, các công ty dịch vụ viễn thông Mỹ phải cung cấp các dữ liệu thông tin khi được yêu cầu. Đổi lại, trong trường hợp bị khách hàng phát giác, các doanh nghiệp này sẽ được hưởng quy chế “miễn truy tố” nếu xảy ra kiện tụng.
![]() “Tấn công tin tặc” cũng là một loại vũ khí cần phải được giải trừ. |
Đến năm 2008, một đạo luật đặc biệt mới đã được thông qua dưới tên gọi Foreign Intelligence Surveillance Act Amendment Act, thường được biết đến dưới cái tên là Fisaaa. Đạo luật này ngoài việc giám sát các đối tượng khủng bố hay các tội phạm nghiêm trọng còn cho phép theo dõi các hoạt động chính trị và kinh tế nhắm vào những ai không là công dân Mỹ.
Quả thật, các tiết lộ của Snowden đã khẳng định sự tham gia tích cực đến chừng nào của cơ quan tình báo các nước nói tiếng Anh “Sigint” - tức Signals Intelligence hay tình báo điện tử. Theo các dữ liệu hay các báo cáo mà cựu nhân viên tình báo này tung ra, Sigint đã thực hiện một chiến dịch rộng lớn giám sát các phái đoàn nước ngoài đến dự Hội nghị Thượng đỉnh G20 tại London vào năm 2009. Tất cả các đối tác của Anh và Mỹ đều là đối tượng nằm dưới sự giám sát của cơ quan này.
Dù các quốc gia trên có khẳng định rằng đã thực hiện đúng luật và là nhằm bảo vệ xã hội, nhưng đối với tác giả, các cơ quan trên đã phớt lờ sự tổn hại mà họ đã gây ra cho các xã hội dân chủ và ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền tự do ngôn luận khi tiến hành các hoạt động gián điệp.
Sự việc đổ vỡ đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến mối quan hệ hai bên bờ Đại Tây Dương. Pháp cho rằng việc tập đoàn Google lén lút hợp tác với các cơ quan tình báo Mỹ - Anh là vi phạm luật lệ của quốc gia này. Ủy ban Quốc gia về thông tin và quyền tự do Pháp (CNIL) ra thời hạn cho tập đoàn tra mạng lớn nhất này trong vòng 3 tháng phải thay đổi chính sách, bằng không sẽ phải trả một khoản tiền bồi thường lên đến 175 triệu euro.
Không chỉ có Pháp, Tây Ban Nha mà hầu như cả châu Âu cũng đang tức giận. Khi biết mình bị theo dõi lén từ bấy lâu nay, châu Âu đã yêu cầu phía Mỹ phải có những giải thích xác đáng. Paris yêu cầu Washington phải có những “đảm bảo” trước khi bước vào bàn đàm phán.
Nói đi cũng phải nói lại, dù chỉ trích kịch liệt Hoa Kỳ, ông François Géré, Chủ tịch Viện Phân tích chiến lược Pháp nhận định: “Tại Pháp, chúng tôi cũng làm điều tương tự. Các hệ thống gián điệp và giám sát giờ đây đã vượt tầm kiểm soát”. Hoa Kỳ không phải là quốc gia duy nhất bị lên án. Ngoài Trung Quốc, trong chừng mực nào đó, nhiều nước châu Âu khác, trong đó có Pháp cũng bị Washington nghi ngờ là tấn công tin tặc vào các doanh nghiệp của Mỹ. Giờ đây, “tấn công tin tặc” cũng là một loại vũ khí cần phải được giải trừ, giống như vũ khí hạt nhân.
(Theo Le Monde, Liberation)
Lương Hoàng

