Tôi gặp anh lần cuối cùng khi anh đã vào tuổi cổ lai hy, anh mất năm 1988.
Tuổi cao sức yếu mà mái tóc còn đen, giọng nói xứ Nghệ vẫn rắn rỏi, sôi nổi. Vẻ mặt đăm chiêu xa vắng y như hồi tôi quen anh ở Huế, cùng dạy trường Việt Anh.
Sau Phạm Huy Thông, vào những năm 1939-1940, ông tung ra những vở Trần Can, Lý Chiêu Hoàng, Quỳnh Như… Một số đoạn bị kiểm duyệt Pháp gây khó khăn. Với nội dung lịch sử và phong cách Việt Nam, anh đã sử dụng thành công một số yếu tố văn hoá Pháp. Trong khi khai thác vốn Dân tộc Việt, Phan Khắc Khoan đã thành công trong tiếp biến văn hoá Hán (anh lớn lên trong gia đình Nho học) và nhất là văn hoá Pháp.
Anh nhắc lại với tôi một số kỷ niệm về con đường sáng tác kịch thơ của anh:
… “Đến 1935-1936 ở Huế, tôi gửi Phong Hoá một truyện thơ trào phúng và một vở kịch thơ khôi hài cùng tên là Nàng thơ gieo cầu (Hội nghị thi nhân), có ảnh hưởng ít nhiều của La Fontaine và Molière. Sau một thời viết báo, gặp quá nhiều trở ngại, tôi thấy phải mở rộng hoạt động sang những ngành khác là trường học và sân khấu. Về kịch, tôi chủ trương ngoài kịch nói, cần xây dựng một nền kịch mới, có thể kết hợp được một phần truyền thống dân tộc (kịch hát - tuồng, chèo, có điệu có vần), vừa thể hiện được tính cách hiện đại của sân khấu nói chung, có khả năng tác động với cả thính giả lẫn độc giả. Sau khi xem loại kịch này, người ta có thể nhớ được ít nhiều. Và nếu đọc tác phẩm, còn dễ thuộc được từng đoạn… Đó là kịch thơ mà tôi đã dò dẫm khai thác. Vào năm 1939, nhân cộng tác mở một trường tư thục ở Thanh Hoá (Lam Sơn), tôi cho tập và diễn thử kịch thơ Trần Can (bị kiểm duyệt cắt mấy đoạn) và 3 tiểu phẩm thơ Pháp có tính kịch. Đầu năm 1940, trong cuộc họp bạn Hướng đạo sinh Đông Dương tại rừng Sặt, vở Trần Can được trình bày trước ba nghìn khán giả, do đó vở này được phổ biến rất rộng rãi, hầu khắp các thị trấn lớn. Ngay năm ấy, kịch bản được đăng trên báo Tri Tân-Hà Nội, cùng với vở Lý Chiêu Hoàng. Năm sau đăng Phạm Thái. Vở Quỳnh Như dài hơn, đăng ở Trung Bắc chủ nhật. Tôi nhớ khi còn là học sinh, có một thầy giáo kể chuyện Napoléon I khi đạt đến tột đỉnh vinh quang, qua thăm ngoại giao nước Đức. Có một chính khách hỏi về sức mạnh của nước Pháp. Người ta rất ngạc nhiên khi Hoàng đế chỉ một nhóm người đi theo: Đó là một đội kịch. Phương thức diễn kịch thơ, tôi tự tìm rồi điều chỉnh và bổ sung dần, có kết hợp nghệ thuật bình tấu của Tây phương qua thi ca Pháp, nhờ một sự kiện độc đáo: Nguyên sau thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh, thực dân Pháp muốn đe nẹt tinh thần quật khởi của học sinh Nghệ, đã tăng cường giáo viên người Pháp và thân Pháp. Trong đó có một võ quan Pháp có bằng cử nhân văn chương đến làm Giám đốc trường. Nhưng qua đợt kiểm tra khả năng học sinh, ông hết sức ngạc nhiên và cảm phục. Sau chính ông lại hướng dẫn cho học sinh biết thuyết trình một đề tài văn học và bình tấu thi ca Pháp bằng giọng chính cống Paris. Chính từ môn bình tấu này (déclamation), tôi đã nâng cao thành nghệ thuật diễn thơ, tận dụng âm thanh tiếng Việt với tính kịch của từng câu. Từ tính chất khoa học của ngôn ngữ Pháp mà tôi liên hệ, đi sâu vào cơ cấu tiếng Việt và đã thành công bước đầu với một bài tham luận in trên tạp chí của ông Nguyễn Xiển, được coi là bài duy nhất đạt yêu cầu về vấn đề này (số 7 năm 1942).
Với kịch thơ, có lúc tôi dựa vào đề tài và thể tài của kịch thơ Pháp. Về thể tài, trong cách thức gieo vần, tôi thường áp dụng vần gián cách, bằng trắc xen nhau, bốn câu một, từng xuất hiện trong thơ cổ chữ Hán, nhưng khá phổ biến trong kịch thơ Pháp. Về đề tài, tôi dựa đề tài cổ điển phương Tây và huyền thoại phương Đông, nhưng hoàn toàn độc lập về ý tưởng.”