PaNang - “miền gió hú”

Thời sự
Chưa biết Pa Nang, coi như chưa biết miền Tây Quảng Trị. Một nhà văn đã gọi đây là “miền gió hú”. Ở độ cao trên 1.200m, gió nơi đây thổi mạnh xiết vào thành xe những âm thanh kỳ dị.

Chưa biết Pa Nang, coi như chưa biết miền Tây Quảng Trị. Một nhà văn đã gọi đây là “miền gió hú”. Ở độ cao trên 1.200m, gió nơi đây thổi mạnh xiết vào thành xe những âm thanh kỳ dị.

Trong chuyến đi miền Tây Quảng Trị đầu năm Kỷ Sửu lần này, do thời gian có hạn, chúng tôi không có kế hoạch lên Pa Nang. Nhưng trung tá Nguyễn Thành Phú, Trưởng ban Tuyên huấn Bộ đội Biên phòng Quảng Trị bảo: “Chưa đến Pa Nang, coi như chưa biết thế nào là miền Tây Quảng Trị...”. Máu nghề nghiệp nổi lên, chúng tôi vội vàng “khăn gói quả mướp”, hăm hở lên đường. Và nhiều điều mới mẻ, lạ lẫm ở vùng đất nổi tiếng nắng lửa, gió Lào vốn được một nhà văn đặt cho một biệt danh khá ấn tượng: “Miền gió hú” này đã mở ra trước mắt chúng tôi...

 Lên đường tuần tra.

Cô lập trên độ cao 1.200mét..

Chiếc U oát hai cầu dã chiến được cánh “giặc lái” kháo nhau là “con” xe “ngon” nhất trong dàn xe của Bộ chỉ huy Biên phòng Quảng Trị, có thể một mạch lên tới “miền gió hú” mà không phải lo lắng gì. Thế mà vừa mới ra khỏi vùng Lìa, ngược lên Pa Nang bằng đường xuyên rừng còn nguyên dấu tích đường mòn Hồ Chí Minh, nó đã mấy phen bị đo ván vì đường quá dốc và xấu. Từ Lìa vào Pa Nang mất độ 30 km đường khúc khuỷu, gập ghềnh, trong đó ghê nhất là đoạn mới mở dài chừng 7 km từ bản Loà thuộc xã Pa Tầng đến đồn Biên phòng Sa Trầm. Chỉ khoảng mươi quãng “con dao quăng” này thôi, đã ngốn của chúng tôi hết hơn 2 tiếng đồng hồ vật qua, đảo lại qua các ổ voi, ổ trâu, ổ bò. Như vậy, tính ra, ô tô đi với vận tốc khoảng... 3,5 km/h. Leo gần đến Pa Nang, ở độ cao trên 1200 mét, gió bắt đầu thổi mạnh, xiết qua khe cửa kính xe tạo nên những âm thanh kỳ dị. Những dải sương mù trắng xốp chảy dài trên sườn núi. Sâu thẳm dưới đáy vực thỉnh thoảng xuất hiện những đoạn suối sủi bọt trắng xoá như được vắt ra từ giữa biển sương mù mênh mông. Cuối cùng, chúng tôi cũng đến được Pa Nang, xã biên giới mà theo trung tá Nguyễn Thành Phú, là nơi khó khăn, gian khổ nhất trên hai tuyến biên phòng Quảng Trị.

Nhìn trên bản đồ, Pa Nang như một ốc đảo nép mình dưới dãy Trường Sơn đi qua đoạn biên giới Việt - Lào thuộc tỉnh Quảng Trị. Đồn Biên phòng Sa Trầm đóng ở đây phụ trách quản lý 2 xã: Pa Nang thuộc huyện Đakrông và Pa Tầng, thuộc huyện Hướng Hoá. Theo đại úy Nguyễn Quang Đại, cán bộ phụ trách địa bàn Pa Nang, cũng như Pa Tầng, Pa Nang thuộc diện đặc biệt khó khăn, cư dân sinh sống chủ yếu thuộc các dân tộc thiểu số Vân Kiều, Pa Cô, Cà Tu, tỷ lệ đói nghèo còn tới trên 50%. Đặc biệt, do thời tiết khắc nghiệt cùng nhiều nguyên nhân khác, Pa Nang là một trong những vùng trọng điểm sốt rét ác liệt nhất tỉnh Quảng Trị. Tuy nhiên, hệ thống đường giao thông vẫn là vấn đề nan giải nhất. Nằm cách trung tâm huyện Hướng Hoá 30 km và trung tâm huyện Đakrông hơn 40 km, mùa hạ gió Lào nắng cháy da, bụi bay mù trời; mùa mưa đường xói lở, trơn như đổ mỡ, người đi bộ cũng khó khăn chứ đừng nói đến ô tô, xe máy. Vì vậy, việc giao thương, trao đổi hàng hoá, sản phẩm nông nghiệp của người dân gặp rất nhiều hạn chế, từ đó sinh ra những nghịch lý trong quan hệ cung, cầu. Chẳng hạn, một buồng chuối hoặc cả bao dứa ở Pa Nang có giá rẻ đến không thể tưởng tượng nổi: chỉ một vài ngàn đồng. Trong khi đó, các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm phục vụ đời sống hàng ngày lại rất đắt đỏ... Thực tế, để vực dậy Pa Nang, giúp địa phương phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói, giảm nghèo, tiến tới đuổi kịp các xã bạn còn là một bài toán khó không dễ gì tìm ra lời giải.

Cũng theo đại úy Đại cho biết, ở Pa Nang, đến giờ, một bộ phận không nhỏ đồng bào các dân tộc ở Pa Nang vẫn còn giữ thói quen lên rẫy vào buổi sáng, làm thông tầm đến buổi chiều mới trở về nhà. Có lẽ vì thế, những gia đình mà chúng tôi đến, đều có thể gặp được từ ông bà, bố mẹ đến con cái. Tại nhà Hồ Pả Cum ở bản Đá Bàn, trò chuyện với ông, chúng tôi mới thấm thía được cuộc sống còn nhiều vất vả của bà con trong bản. Năm hai mùa lúa rẫy, gia đình ông thu được khoảng 70 đến 80 gùi - số thóc quá ít đối với 6 miệng ăn. Rồi còn bao nhiêu khoản chi khác cho cuộc sống vốn còn rất chật vật. Vậy nên, cái đói, cái nghèo vẫn còn hiện diện ở gia đình ông, bản ông, tuy cái ăn qua mùa giáp hạt không còn là nỗi lo thường trực như thời gian trước đây vì đã có Nhà nước trợ giúp một phần. Ông nói: “Như thế này đã là khá hơn so với trước nhiều rồi. Nhờ ơn Đảng, Chính phủ ưu tiên đầu tư nhiều dự án xoá đói, giảm nghèo, nhờ ơn bộ đội biên phòng tận tình chỉ dẫn cách làm ăn, nên dân bản phần lớn đã đủ ăn, đủ mặc, không còn phải ăn củ rừng thay cơm nữa...”.

...Và những người đi tìm lời giải “bài toán Pa Nang”

Một trong những người tâm huyết nhất trong việc đi tìm lời giải cho “bài toán Pa Nang” có lẽ chính là trung tá Thái Ngọc Ánh, Đồn trưởng đồn biên phòng Sa Trầm. Sở dĩ tôi có kết luận như vậy là vì đã được anh say sưa giảng giải về con đường nối vùng Lìa với Pa Nang, Pa Tầng rồi thông sang Đakrông trị giá 12 tỷ đổng do Bộ Chỉ huy bộ đội Biên phòng tỉnh làm chủ đầu tư vừa mới hoàn thành. Anh hi vọng đây sẽ là “con đường xoá đói giảm nghèo”, giúp Pa Nang từng bước phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện cơ sở hạ tầng hiện nay quá nghèo nàn, gần như là chưa có gì. Còn chúng tôi, sau chuyến thâm thập thực tế thì cho rằng, đây chính là giải pháp cơ bản để có thể giải “bài toán Pa Nang”. Bởi lẽ, con đường này mở ra sẽ giúp cho Pa Nang thoát khỏi thế bị thiên nhiên cô lập với thế giới bên ngoài, đặc biệt là vào mùa mưa lũ. Còn nhớ, lúc mới đến Pa Nang, chúng tôi gặp thiếu uý, y sỹ Đỗ Quang Hương, phụ trách phòng khám quân, dân y kết hợp của đồn biên phòng Sa Trầm, được anh kể về những khó khăn vất vả của đồng bào nơi đây. Do đường sá đi lại quá khó khăn nên từ các bản ra đến trung tâm xã và đồn biên phòng chỉ có thể đi bộ hoặc bằng ngựa, bản xa nhất phải mất đến 3, 4 ngày đường. “Mà “miền gió hú” này lại là vùng lam sơn, chướng khí dễ sinh ra bệnh tật mới khổ chứ - Hương nói - Từ đầu năm đến nay, chỉ riêng về sốt rét, chúng tôi đã tiếp nhận điều trị hàng chục ca bệnh nhân là đồng bào trên địa bàn. Có những ca ác tính, phải chuyển lên tuyến trên, xe máy, ô tô không đi được, anh em phải khiêng cáng đi bộ ra huyện...”. Chỉ qua câu chuyện của y sỹ Hương, nhiều người hẳn đã nhận rõ một phần lợi ích của con đường “xoá đói, giảm nghèo” mà bộ đội biên phòng Quảng Trị làm chủ đầu tư đối với việc phát triển kinh tế - xã hội ở cả một vùng rộng lớn thuộc hai huyện Hương Hoá và Quảng Trị, trong đó có Pa Nang.

 Khám bệnh cho nhân dân trên địa bàn.

Nói thêm về những người đi tìm lời giải cho “bài toán Pa Nang”, sẽ là thiếu sót nếu không kể đến vai trò của những người lính biên phòng đồn Sa Trầm. Ở nơi heo hút nghìn trùng này, ngoài nhiệm vụ bảo vệ bình yên cho suốt một dải biên cương, họ còn là những người đi ươm mầm xanh cho đất, cho cuộc sống đồng bào còn nhiều khốn khó. Như đại úy Đại là một ví dụ. Bà con các dân tộc ở Pa Nang bây giờ coi Đại và đồng đội của anh như người trong nhà, trong dòng tộc mình vì sự tận tâm của các anh đối với việc hướng dẫn, giúp đỡ đồng bào làm quen với cuộc sống định cư, biết áp dụng cách làm ăn mới, từ bỏ lối canh tác lạc hậu “phát, đốt, cốt, trỉa”, ngày nối ngày lầm lũi như con hươu con nai trong rừng mà vẫn không đủ ăn. Nhờ có các cán bộ cắm bản của đồn Sa Trầm như Đại mà bây giờ đồng bào các dân tộc ở Pa Nang đã biết chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo mô hình VAC. Cả xã bây giờ đã có gần chục hécta cà phê cà phê, tiêu, điều... chuẩn bị cho thu hoạch lứa đầu tiên. Đàn lợn, đàn dê được nuôi, chăm sóc tập trung cũng bắt đầu sinh sôi, nảy nở... Mai này, khi cuộc sống khấm khá, đồng bào các dân tộc ở Pa Nang hẳn sẽ không bao giờ quên công sức của cán bộ, chiến sỹ biên phòng đồn Sa Trầm, bởi chính họ là một trong những người mở đường để Pa Nang thoát khỏi đói, nghèo.

Chúng tôi tạm biệt “miền gió hú” Pa Nang lúc ánh hoàng hôn đã tràn ngập khắp núi rừng. Đây đó, trên những nóc nhà thấp thoáng những sợi khói mỏng manh hoà dần vào không gian đang chuyển mình. Bên cầu thang, các thiếu nữ Vân Kiều, Cà Tu, Pa Cô đang cùng nhau giã gạo. Tiếng chày nện thình thịch xuống cối vang vọng khắp núi rừng. Cái thứ âm thanh thật vui tai, cứ vang xa, vang xa, rồi tan loãng vào giữa bạt ngàn xanh của núi.

Bài và ảnh: Thái Bình


Ý kiến của bạn