Ông Quản Tạo

Thời sự
Mọi người gọi ông là ông quản, vì ông được cha xứ giao nhiệm vụ trông nom lũ trẻ học tập kinh bổn.

Mọi người gọi ông là ông quản, vì ông được cha xứ giao nhiệm vụ trông nom lũ trẻ học tập kinh bổn.

Vào những buổi lễ sáng chầu chiều, ông thường cầm một chiếc roi mây, oai vệ đi lên dạo xuống dọc theo lòng nhà thờ, hễ đứa nào nói chuyện hay trêu chọc nhau bèn được ông "thưởng" cho một roi nhớ đời.

Thuở ấy ông bao nhiêu tuổi, thật khó đoán. Ông để đầu ca-rê, nhưng chỉ còn vài sợi tóc lơ thơ nên cũng như trọc. Tầm vóc cao lớn đẫy đà, mặt đầy tàn hương, da cớm nắng, má chảy xệ xuống nên thoạt nhìn ông giống đàn bà hơn đàn ông.

Khi nhà tôi dọn vào Thanh Hóa, ông quản Tạo không vướng bận gì, nên hằng năm thầy tôi đều cho đón ông vào Thanh chơi vài ba tháng. Chuyện trò với ông, thầy tôi cũng vơi được một phần nỗi nhớ quê.

Nghe nói xưa kia ông đã đi tu, nhưng học không vào, ông lại phải quay về làng. Vợ ông cũng là một bà tu xuất. Thôi thì cùng cảnh, đã không có ơn Chúa kêu gọi thì đành nương tựa vào nhau. Nhưng hiềm một nỗi ông bà lại chẳng có con nên cũng cô quạnh.

Hơn nữa, cả hai thời trẻ chỉ biết lo kinh quyển, không quen với việc đồng áng. Quê tôi, người thạo chân tay khi giáp hạt còn đứt bữa huống chi ông bà. Cũng còn may, đồng lụt có ít tôm cá. Mùa lụt bà đi xúc ít tép về làm mắm, còn có cái mà chấm cơm quanh năm.

Quanh làng núi non trùng điệp, ông lên núi kiếm gốc hà thủ ô đem về bóc lấy vỏ, sắc đặc thành cao đem ra tỉnh bán hoặc đổi lấy ít bơ gạo.

Thầy tôi cười, kể lại. Một đêm tối trời, gió se se lạnh. Trong xóm, cầu kinh tối xong mọi người đều đi ngủ sớm. Ông bà quản Tạo cũng rửa chân khô rồi lên giường. Ông được cái đức chưa nằm ấm chỗ đã ngáy o o. Còn bà nghe trẻ trong xóm quấy khóc, chạnh lòng nên cứ lật đi lật lại mãi mà không sao thiếp đi được.

Bỗng có tiếng kẹt cửa dưới bếp. Bà vốn tính ăn ngay ở lành nên rất sợ kẻ gian, nhưng bà không dám kêu. Bà bấu vào tay ông mãi ông mới tỉnh. Bà hổn hển, hình như có trộm. Ông nghe rất rõ nhưng lại trở mình giả ngáy to hơn. Ông cũng sợ.

Kẻ gian thấy trên nhà yên ắng càng mạnh tay. Có tiếng lục cục. Bà lại bấu ông. Tự ngẫm thân mình to lớn, đã từng cầm roi mây dạo khắp nhà thờ, oai phong lẫm liệt thế mà giờ lại chịu mất mặt à. Ông bèn đáp cụt lủn: Bà để đấy cho tôi! Và ông vùng dậy thật.

Nhưng mãi bà cũng không thấy động tĩnh gì, bà ngạc nhiên rồi chừng như cảm thấy một mình nằm trên giường trống trải không yên tâm, bà cũng vùng dậy, quờ quạng tìm ông.

Chưa thấy ông đâu thì nghe thấy tiếng gậy đập chan chát vào vách. Bà rú lên, lạy Chúa tôi, chẳng lẽ trộm nó đánh ông rồi sao. Chưa biết định liệu thế nào thì lại nghe ông quát: “Châm cái đèn lên mau". Nghe giọng ông vẫn dõng dạc đường hoàng, bà thấy đỡ lo hơn. Nhưng sao lại thế nhỉ?

Dưới ánh đèn, bóng ông lồng lộng. Ông đã mặc chiếc áo bađờsuy dạ đen cũ của cha xứ cho khi ông thôi chức quản, lưng thắt sợi dây chão, ngực phồng to, tay lăm lăm cây gậy hà thủ ô đã bóc vỏ trắng toát.

Lần này hình như ông cố ý quát to hơn trước, "Đưa đèn đây cho tôi! Phải cho chúng nó biết tay". Rồi ông đi xăm xăm xuống bếp, bà muốn cố níu ông lại cũng không được.

Cánh cửa bếp bị mở tung nhưng hình như mọi vật vẫn như cũ. Thôi thế là may rồi. Bà vội đóng cửa lại, lấy mấy viên gạch chặn thêm cho chắc rồi giục ông lên nhà.

Ông từ từ rút trong ngực ra, nào là pho sấm truyền, nào sách kinh bổn. Thì ra ông đã cẩn thận tạo ra được một bộ áo giáp phòng thân.

Sáng tinh mơ hôm sau bà đã tỉnh dậy, bà không đánh thức ông. Sau chiến công đêm qua ông đáng được ngủ muộn. Một mình bà lâm râm cảm ơn Chúa đã phù hộ cho ông bà và cũng không quên xin Chúa tha tội cho kẻ gian nào đó vì y cũng chưa kịp lấy gì.

Bà xuống bếp thổi cơm. Trong lúc chờ cơm cạn, bà chuẩn bị mâm bát mới phát hiện, ôi thôi! Cái hũ mắm khá to đã không cánh mà bay, bà vừa khóc vừa gọi giật ông dậy. Ông cũng chỉ còn biết thở dài, ngồi nhìn bà khóc. Bữa cơm rắc muối vì đói rồi cũng qua nhưng rồi sẽ ra sao? Còn đôi ba tháng nữa mới lại đến mùa nước lụt!

Ông đành đi sớm về muộn hơn, loanh quanh bên các sườn núi, len lỏi giữa các bụi cây. Còn bà thì tha thẩn quanh các bờ ruộng tìm hái rau má hoặc ít ngọn rau muống hoang.

Một buổi trưa, ông đang ngồi trên mỏm đá nghỉ tay thì thấy bà từ trong làng tất tả chạy ra, vừa chạy vừa réo gọi ông. May quá, thì ra bà vừa tìm được hũ mắm rồi. Bà ra bụi chuối cuối vườn, định hái hoa chuối về làm nộm thì thấy hũ mắm bị vứt lại đó.

Cái nút bằng lá chuối khô đậy không kỹ, sương đêm thấm ướt, nhưng mắm thì còn, chỉ hơi có mùi thum thủm.

Có lẽ tên trộm đó khác làng nên mới mò đến nhà ông, cũng có lẽ ra đường gặp vía xấu nó mới chỉ vớ được hũ mắm, hoặc vì bà quản vụng tay nên mắm có mùi, hay vì sợ oai ông quản mà nó đành vứt lại để chạy tháo thân, hay vì cớ gì nữa không ai biết được đích xác. Nhưng hũ mắm còn lại đó là mừng rồi. Tôi thấy thầy tôi lúc kể thì cười, nhưng kể xong lại lau nước mắt...

Thấy thầy tôi quý ông nên cả nhà cũng nể. Mẹ tôi bảo cả đời thầy các con bôn ba hết tỉnh này đến tỉnh nọ, nay về hưu, nhưng vì đường học hành của các con có muốn về hẳn quê cũng không được. Có ông quản Tạo là thầy như về quê rồi đấy.

Có lẽ mẹ tôi có lý. Nhiều lúc ngồi nghe lỏm chuyện của thầy tôi với ông quản, tôi thấy thầy tôi cứ như nói để mà nói cho đỡ buồn chứ ông quản chỉ ú ớ. Chuyện nhân tình thế thái nơi xa ông đã không biết, sao chuyện cũ của làng ông cũng lơ mơ. Chỉ vào bữa ăn là ông như thầy tôi, thầy tôi ăn gì ông cũng ăn nấy.

Trời cho ông được cái tướng oai. Chủ nhật đi lễ, ông toàn lên dãy ghế của bọn Tây đầm. Thấy ông, chúng đều dạt sang một bên. Ông cũng như chúng, chỉ đứng và ngồi, kể cả lúc trên bàn thờ cha đang dâng Thánh thể, mọi người đều phải quỳ.

Tan lễ ra về, ông kiêu hãnh bảo tôi: "Tất cả đều là con Chúa, chúng nó hơn gì mình nào. Đấy là ông chưa kể, ông còn có đặc ân của Chúa hơn chúng nó, ông mà tới là chúng nó phải dạt ra hai bên đấy thôi".

Kể ra ông nói cũng đúng. Duy có điều tôi biết, Tây đầm tránh ông vì người ông hôi, tuy chúng cũng nặng mùi hôi nách chứ chẳng hơn gì ông.

Suốt mùa đông ông khoác chiếc bađờsuy. Thầy tôi bảo tôi lên ngủ cùng giường với ông, tôi đành quay mặt vào tường cho dễ thở, nhưng không dám cưỡng lời. Có cái lạ là không thấy ông thay áo bao giờ.

Thỉnh thoảng trời hửng nắng, ông cởi áo cánh trong ra, nhìn ngắm một hồi rồi ông lấy áo ngoài mặc vào trong, lấy áo trong khoác ra ngoài. Coi như đã thay. Chị giúp việc cứ chờ ông loại ra cái nào để còn mang giặt, ông mắng "Chỉ được cái khéo vẽ".

Hôm nào nắng to ông ra giữa sân ngồi. Cởi hết các áo ra, ông trải xuống mặt sân và lấy chai rượu phông ten, lăn khắp các đường nối. Ông bảo phải giết hết lũ ma quỷ đi. Lũ rận bị nghiến bẹp thật.

Nhìn ông cởi trần, đàn ông mà hai vú chảy xệ như bà già, da vân lên vì ghét. Tôi cứ thắc mắc, cái đặc ân mà ông khoe là Chúa ban cho ông là gì nhỉ. Hỏi thầy tôi, thầy tôi chỉ cười bảo, ông ấy theo sách Tân ước đấy mà.

Thì ra trong làng, sau khi thôi chức quản, ông chẳng hơn ai ngoài cái tiếng là thầy tu xuất. Ông khoe là Chúa thương ông, đã phú cho ông làm được một ít phép lạ.

Nghe ai ốm ông bèn tới thăm và đưa cho một gói con, bảo họ không được mở ra xem, nó mất thiêng, cứ sắc mà uống rồi sẽ khỏi.

Thật ra đó chỉ là mấy bông hoa mẫu đơn khô ông lấy từ trên bàn thờ Đức Mẹ hằng cứu giúp của nhà ông, nó vô thưởng vô phạt.

Nếu người ốm khỏi, dù không tin là do ông thì cũng vì nể mà cám ơn ông, nhược bằng không thì lại là do ý Chúa hay vì thiếu đức tin...

Cứ thế, tiếng lành đồn xa, nhiều người cũng đã tìm đến ông để xin ông làm phép cho. Nhiều lần như thế, chính ông cũng tin hay là mình có phép thật. Chẳng thế mà có lần gặp người bị sâu quảng, ông đã nhổ nước bọt xuống đất, lấy tay day day rồi trét vào mụn người ta.

Chính tôi một lần sắp sửa đi học thì trời đổ mưa, ông bèn vác cây gậy hà thủ ô chạy ra giữa sân, ông bảo để ông đuổi mây đi cho. Thấy ông bị ướt, thầy tôi quát, ông mới chịu vào. Chỉ khổ cho tôi, đêm ấy phải nằm bên ông. Một mùi khăm khẳm tỏa ra, ông bảo có hơi người khắc sẽ khô.

Rồi vào mùa lụt ông đòi về quê. Chưa kịp khăn gói lên tàu thì có dây thép báo vào, bà quản đã qua đời. Mưa đầu mùa, bà đi xúc tép, bị cảm nhưng tham công tiếc việc bà cứ xông pha. Đến khi quỵ xuống, hàng xóm sang thăm thì thấy bà đang hấp hối, không trăn trối được điều gì.

Thầy tôi nhắn, chôn cất bà xong phải vào ngay. Thầy tôi bàn với mẹ tôi sẽ đón ông vào ở hẳn. Ông nay cũng như gốc hà thủ ô già đã bị tước vỏ rồi.

Nhưng nửa tháng, rồi một tháng qua đi vẫn không thấy ông đâu. Ngày ngày ông bơi chiếc thuyền ra câu với mộ bà. Gọi là mộ nhưng chỉ là một mô đất. Nước rút thì thấy nhấp nhô, nước lên thì chỉ mình ông là may ra tìm thấy. Người làng sợ sóng đồng, ông lại không biết bơi, nhưng can thế nào cũng không được. Lũ trẻ trước vẫn bị ông cho ăn roi ở nhà thờ thương ông, bảo nhau đứa rau đứa cháo. Ông thấy tội cho chúng nó quá ông mới chịu vào lại nhà tôi.

Từ cổng vào nhà tôi phải dọc theo một đoạn vườn. Tôi đi học về không ngờ thấy ông ngồi bệt ở đấy. Nhìn tôi, ông không nói gì nhưng khuôn mặt gầy tọp, mếu máo, hai hàng nước mắt giàn giụa. Lần đầu tiên tôi thấy một người già khóc. Ôi! Sao nó đau đớn thế! Tôi cuống quýt chạy vào báo cho thầy tôi, quên cả dắt ông theo.

Hôm sau, thầy tôi dặn cả nhà không ai được nói đến bà quản nữa, Chính ông cũng không nhắc... Tôi lại tiếp tục nằm bên ông, ông lại tiếp tục lên đứng bên bọn Tây đầm trong các buổi lễ.

Cái khác trước là ông ít nói hơn, trông hiền hơn, không đuổi mây mưa nữa và khi tôi bảo ông thay áo, ông lặng lẽ nhìn tôi một lát rồi ngoan ngoãn làm theo.

Sáng sáng trời còn chưa tỏ, tiếng chim tu huýt vừa văng vẳng ở ngọn cây vối cuối vườn, ông đã dậy lâm râm cầu kinh.

Nhưng một hôm, trong cơn nửa tỉnh nửa mơ, tôi thấy hình như ông không đọc kinh nữa mà thì thầm với một người nào đó. Tôi tò mò lắng nghe. Đúng là ông nói thực và lại nói một mình. Ông ngồi ngay bên tôi mà sao nghe tiếng ông xa xôi, cứ như từ đâu vẳng lại. Bà ơi! Bà hãy xá tội cho tôi đã để bà nằm một mình ngoài đồng lạnh. Sao bà không nán đợi tôi, cho tôi đi theo hở bà...

Tôi không muốn nói lại cho thầy tôi biết. Tôi chỉ lặng lẽ quan sát ông. Trong nhà có ai nhận xét gì về ông tôi chỉ mỉm cười, nghĩ thầm chẳng ai hiểu ông bằng tôi.

Nhưng rồi một đêm, tôi bỗng giật mình tỉnh dậy vì nghe như có tiếng ai gọi. Sờ sang bên không thấy ông đâu. Định thần nhìn ra, cánh cửa ra vườn đã mở hé. Tôi vội chạy ra. Ông quản Tạo đã gục bên ngưỡng cửa. Ông ra vườn tiểu tiện, quay vào thì bị một cơn gió độc.

Mấy ngày sau ông cứ luội dần. Thầy tôi hết lòng thuốc thang nhưng không chuyển. Ngoài giờ học tôi hay ngồi bên ông, cầm tay ông mân mê mà không biết nói gì.

Ông cố mỉm cười: "Thế là Chúa sắp gọi ông về đấy. Bà ấy cũng đỡ lủi thủi một mình cháu ạ". Thế rồi hôm sau ông đi thật.

Cơn hấp hối sao mà vất vả thế. Thở hắt ra thì nhiều và mạnh, hít được vào thì khó nhọc, thưa thớt. Mồ hôi trán ông nhơn nhớt. Con chim lợn kêu đầu vườn đến phát sợ.

Đến khi ông trút hơi thở cuối cùng, tôi thấy môi ông tím lại giây lát rồi lại hồng lên và sau đó mọi khó nhọc trong cuộc tranh chấp sinh tử đều biến đi. Ông như người ngủ, hình như miệng ông còn khẽ mỉm cười nữa...

... Sau này, có lúc tôi hỏi chị giúp việc, hôm đưa ma ông quản sao chị lại khóc. Chị bảo: "Không có tiếng khóc, đám ma nó lạnh lẽo lắm". Tôi lại gặng hỏi: "Nhưng sao chị khóc thảm thiết thế". "Không thế nó không thành đám ma". Ngẫm nghĩ một lát, tôi tò mò: "Chị có họ hàng gì với ông ấy đâu nhỉ". Chị nhìn tôi sửng sốt: "Ơ! Thế tôi không phải là người cùng làng ta à!".

Tôi bỗng thấy ngượng và không dám hỏi thêm gì nữa.

GS.TS. Đình Quang


Ý kiến của bạn