(SKDS) - Năm 1960, tôi được học thầy giáo trẻ Đặng Hiển. Đó là một trong số rất ít thầy giáo tốt nghiệp đại học về dạy ở Trường cấp II, III Ứng Hòa, trường mới thành lập tại một huyện phía Nam xa xôi của tỉnh Hà Đông cũ. Trên lớp, thầy không có cái giọng âm vang, lên bổng xuống trầm như một số thầy dạy văn khác, song bài giảng của thầy đã cuốn hút học trò bằng mạch ngôn ngữ truyền cảm, sâu lắng và kiến thức sâu rộng. Nhóm học sinh giỏi văn của trường hồi ấy học được ở thầy rất nhiều về phương pháp đọc, phân tích tác phẩm và cách trình bày khúc chiết những vấn đề văn chương và xã hội. Chúng tôi tự hào vì thầy giáo của mình ở một trường xa xôi hẻo lánh nhưng đã có thơ đăng báo tận Hà Nội, được cả nước biết tên.
Đến nay, nửa thế kỷ, thầy vẫn bền bỉ, thủy chung với thơ, với văn chương, với công việc giảng dạy, nghiên cứu. Trong đó có 40 năm trực tiếp làm thầy giáo dạy văn trên bục giảng nhà trường phổ thông. Sau 3 năm dạy ở Trường cấp III Ứng Hòa, thầy về dạy ở Trường cấp III Phú Xuyên, sau đó là nhiều năm dạy ở Trường PTTH Lê Quý Đôn, Hà Đông cho đến ngày nghỉ hưu. Suốt 40 năm trong nghề, thầy chưa bao giờ rời bục giảng. Kể cả khi được đề bạt là hiệu phó nhà trường phụ trách nhiều công việc quan trọng, thầy vẫn trực tiếp đứng lớp với số tiết tối đa theo quy định. Thầy dạy hệ chuyên văn đầu tiên của tỉnh, khai mở những bước đi ban đầu của một hệ thống đào tạo bồi dưỡng những tài năng văn học trẻ trong nhà trường phổ thông hồi ấy.
Nhà giáo ưu tú, nhà văn, nhà viết kịch Đặng Hiển. |
Ngoài giảng dạy trên lớp, thầy còn tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa như sinh hoạt CLB Văn học, thi sáng tác, diễn kịch (kịch mục do thầy trò tự biên tự diễn) để lôi cuốn học sinh vào môn văn và phát hiện, phát huy năng khiếu văn học, năng khiếu sáng tác của các em. Thầy có hàng chục sáng kiến được xếp loại cao ở cấp trường, cấp tỉnh và hàng trăm bài tiểu luận đăng trên các tạp chí, tập san của ngành. Tất cả các bài viết đó sau này thầy chọn lọc và in thành các tập sách:
Dạy Văn, học Văn dày gần 800 trang và tập
Bình luận Văn học dày hơn 500 trang do NXB Đại học Sư phạm ấn hành.
Đây là những bộ sách đã trở thành tài liệu tham khảo thiết thực cho giáo viên văn các trường THCS, THPT và đại học. Là giáo viên dạy giỏi văn cấp tỉnh nhiều năm, thầy trở thành giảng viên các lớp bồi dưỡng giáo viên của tỉnh, của bộ, là báo cáo viên các hội nghị chuyên đề bộ môn, thầy đã đạt được nhiều danh hiệu thi đua trong các năm học. Đặc biệt, năm 1998, thầy được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Nhà giáo ưu tú” và được tặng Huy chương “Vì thế hệ trẻ”.
Là một nhà giáo, thầy còn là một nhà văn miệt mài sáng tạo trong gần nửa thế kỷ nay. Thầy viết văn xuôi, viết kịch. Tập truyện ký Cây đời mãi xanh năm 2006 và 4 tập kịch Con chúng ta, Trên đồi thông, Nỗi đau trồng người, Điểm hẹn của lịch sử (năm 1995, 2007, 2008 và 2012) của thầy ra đời được dư luận chú ý song thầy vẫn dành nhiều tâm huyết với thơ.
Thơ của thầy là cảm xúc, suy nghĩ, triết luận về nhiều vấn đề của cuộc sống, của con người trong những thời kỳ gian khổ và hào hùng của đất nước. Song, trái tim thơ của thầy vẫn dành những bài cảm động nhất cho các thế hệ học trò. Xúc động và sâu lắng là tấm tình của thầy đối với các học trò đã khuất. Với Bùi Thị Nga, học sinh giỏi văn đã ra đi vì bệnh hiểm nghèo, câu thơ của thầy như chắt ra từ nước mắt: “Em ở lại nấm mồ chưa đắp trọn/ Hoàng hôn rồi trời mờ mịt mưa bay/ Bình minh của ta ơi sao sớm tắt/ Cỏ chưa mọc trên mồ, sương xuống buốt lòng ai…”.
Với những học trò hy sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thơ thầy dẫu có giọng mạnh mẽ, tự hào song vẫn không nén nổi niềm xót thương, nhớ tiếc... Tôi trân trọng đọc tập trường ca Đất nước trong lớp học của thầy. Ở đó, tôi gặp lại tôi và các bạn bè. Những cảnh đời, những sự kiện, những học trò… được viết ra với tình thầy trĩu nặng đã làm cho tập trường ca có sức sống. Ở đó tôi gặp lại và cảm hiểu với chính thầy “Từ tuổi hai mươi đi làm thầy giáo”, từ một chàng trai thị thành về dạy học ở làng quê. Về với vùng quê nghèo những lớp học đơn sơ và đám học trò thôn dã, thầy trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản.
Số lượng và chất lượng các sáng tác của thầy đã đưa thầy đến nhiều giải thưởng văn học ở tỉnh và Trung ương (Giải thưởng báo Người giáo viên nhân dân năm 1961, 1990; báo Giáo dục Thời đại 1998; giải thưởng Ủy ban Toàn quốc liên hiệp các hội VHNT Việt Nam 1995, 1998; giải thưởng Văn học Nguyễn Trãi 1991 – 1995, 1996 – 2000, tặng thưởng cuộc thi thơ Nguồn cội…) và cuối năm 2002, thầy trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, đầu năm 2008, thầy trở thành hội viên Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Năm 2004, do bệnh tình hiểm nghèo, thầy phải phẫu thuật và cắt đi một quả thận. Thể lực có yếu đi song tâm lực, trí lực của thầy vẫn không hề suy giảm. Thầy vẫn hăng hái sáng tác, tích cực hoạt động văn chương và là tấm gương về tinh thần vươn lên trong cuộc sống cho các thế hệ học sinh noi theo.
Năm 2010, ở tuổi ngoại thất tuần, thầy cho ra tập thơ Đời chúng ta do NXB Hội Nhà văn ấn hành. Vẫn hồn thơ trẻ trung, vẫn giàu nặng tình người, tình đời và niềm tin gắn bó với cuộc sống nhà trường và nghề dạy học, tập thơ như những tuyên ngôn trung thành của một nhà giáo, nhà thơ với những gì mình nâng niu, trân trọng trong nửa thế kỷ qua:
Năm mươi năm ấy không hề mất
Sông vẫn đầy trong, dẫu nước trôi.
(Trở lại trường xưa)
Đồng thời cũng trong năm 2010, thầy được Giải B cuộc thi viết về Bác Hồ và cho ra đời tập sách Hoa sen với những sáng tác ở nhiều thể tài văn học khác nhau. Năm 2011, thầy tiếp tục ra tập sách Văn chương - cảm nhận & bình luận dày hơn 400 trang, tập hợp các bài viết về cảm nhận và bình luận văn chương trong hai năm 2009 - 2011 được dư luận chú ý. Năm 2012 cho ra đời tập kịch Điểm hẹn của lịch sử trong đó có 7 vở đã được dàn dựng cùng với tập truyện ngắn viết cho thiếu nhi. Có thể nói: Nhà giáo ưu tú Đặng Hiển vẫn say mê con đường mà mình đã chọn: Sáng tạo văn chương và hết lòng với thế hệ trẻ.
Thanh Ứng