Nằm ở đầu con nước Mơ Răng - thượng nguồn của dòng sông A Vương, làng Aur vẫn còn giữ nguyên vẹn những nét đặc sắc trong văn hóa của tộc người Cơ tu. Hoàn toàn cô lập với thế giới bên ngoài và mãi đến năm 2003, Aur mới xuất hiện trên bản đồ hành chính (thuộc xã A Vương, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam). Tiền là một thứ khá lạ lẫm ở Aur. Sinh sống chủ yếu bằng săn thú và làm nương rẫy nhưng Aur được xem là sung túc, no đủ và sạch sẽ nhất trong các bản người Cơ tu của huyện. Đây có lẽ là lý do để ông Bhriu Liếc - Chủ tịch UBND huyện Tây Giang - đã không ngần ngại khi gọi Aur là Singapore giữa đại ngàn Trường Sơn.
Điểm sáng nơi đại ngàn mây trắng
Đến đầu thôn Zaréch của xã A Vương thì chúng tôi đành bỏ lại xe máy để bắt đầu hành trình đi bộ vào Aur. Đường từ trung tâm xã A Vương vào đến đầu thôn Zaréch với những con dốc dựng đứng không là gì so với chặng đường từ Zaréch vào đến Aur. Gần 10km đường rừng mảnh như sợi chỉ giữa lưng chừng trời với vô số những triền núi chênh vênh bên miệng vực sâu đến hun hút... là thử thách mà không phải ai cũng đủ can đảm để đến với Aur. Nghe chúng tôi bắt đầu thở phì phò như muốn đứt hơi khi vượt qua con dốc dựng đứng hàng trăm mét của ngọn núi đầu tiên - núi T'Rong - Bhlinh Chứt, chàng trai người làng Zaréch, người dẫn đường cho chúng tôi cười vang: "Thế này thì nhà báo chỉ có bỏ cuộc giữa chừng thôi. Còn hàng trăm chỗ khác kinh hãi hơn nhiều". Và đã không ít lần chúng tôi phải nín thở, tim đập như trống trận khi qua những triền núi chênh vênh bên miệng vực, những con dốc đất lở ngoằn ngoèo, nhão nhoẹt đất đỏ vắt qua miệng vực rộng ngoác. Vượt qua 10 ngọn núi cao, bắt đầu T'Rong, Ke, Can coo, Venv, Vo, Qrang, Put, Gia ruou, A Cách, Aur ghép với nhau trải dài theo hình bậc thang, mất hơn 5 giờ đồng hồ đi bộ, thậm chí có những đoạn đường phải... bò, đến tối mịt chúng tôi mới đến Aur. Dọc đường đi, Bhlinh Chứt cứ liên tục hối thúc, bởi nếu trời tối thì chỉ còn cách ngủ đứng giữa rừng già. 372 bậc tam cấp bằng gỗ dựng đứng là thử thách cuối cùng với những ai đến với Aur. Làm bậc tam cấp bằng gỗ lên đến đỉnh bản dường như chưa từng có ở bất kỳ bản dân tộc người Cơ tu nào. Và như để "biệt đãi", đền bù cho chặng đường đầy hiểm nguy và bất trắc dưới kia, Aur hiện ra giữa bạt ngàn mây trắng, tưởng như với tay là có thể chạm tới trời xanh.
Ngoài giờ lên lớp, trẻ em ở Aur còn chịu khó học bài ở nhà. |
Aur dường như là xứ sở của những chum, ché và chiêng cổ. Gia đình nào cũng sở hữu một bộ sưu tập chum, ché cổ với những hoa văn rất tinh xảo. Già làng Alăng Zèng không giấu được sự hãnh diện khi giới thiệu với chúng tôi cặp ché cổ có hình đôi rồng uốn lượn: "Cặp ché rồng này nhiều tuổi hơn cán bộ đấy, nó có từ thời cụ, kỵ của già, đã trên 200 năm tuổi. Có nhiều Kinh lên "ăn" mật, đã tìm đến già đòi đổi vàng, đổi cả xe máy, nhưng già quyết không đổi bán. Cái xe máy mang lên Aur thì thành đống sắt đấy". Trong nhà già Alăng Zèng còn có một cặp ché hoa có tên là hoa giấy, được giới thiệu là có giá trị gấp 3 lần cặp ché rồng. Riêng chiếc ché có tên là Thượng Thùy, già Alăng Zèng kể rằng trước khi về với Giàng, cha ông đã dặn lại rằng mất cái gì cũng được chứ ché Thượng Thùy không được để tuột khỏi tay. "Già nghe thì biết thế chứ không biết nó quý đến mức nào". Không chỉ riêng gia đình Alăng Zèng, đến bất kỳ nhà nào ở Aur, khách cũng sẽ được chiêm ngưỡng nhiều chum, ché, chiêng cổ đẹp và quý hiếm.
Vốn trước đây, bản Aur là nơi sinh sống của một tộc người Cơ tu. Rồi chiến tranh loạn lạc, nhiều gia đình phải sơ tán từ trên đỉnh Trường Sơn về làng Thượng Long (huyện Nam Đông - Thừa Thiên Huế), chỉ còn ít hộ quyết bám trụ đỉnh núi Aur. Aur thực sự bị "bỏ quên" cho đến năm 1990, có một nhóm người đi săn mật ong rừng phát hiện bản Aur đã báo cáo với chính quyền xã Thượng Long. Nhưng đường từ bản Aur về nơi gần nhất của xã Thượng Long cũng mất đến 3 - 4 ngày đêm cắt rừng, thế nên vẫn chưa thể đưa Aur vào "biên chế" xã. Đến năm 2003, khi phân định lại ranh giới, biết Aur thuộc huyện Tây Giang, ông Bhriu Liếc - Chủ tịch huyện đã nhận Aur về cho xã A Vương. Vào "biên chế" của xã rồi, Aur mới có được con đường độc đạo để về trung tâm xã, cho dù con đường nhỏ này có thể bị "xóa sổ" bất cứ lúc nào bởi những cơn mưa rừng dai dẳng của xứ Quảng. Biệt lập hẳn với bên ngoài, nhưng điều đặc biệt là cả bản Aur rất sạch sẽ, chỗ chăn nuôi gia súc tách biệt và xa hẳn khu nhà ở. Đã thành lệ, mỗi ngày 3 lần, người già và trẻ con của bản tham gia quét dọn từ nhà cửa, đường đi lối lại trong bản. Nhà nào để phát hiện có rác, bụi bặm thì bị nhắc nhở, phê bình trong những lần họp thôn. Có lẽ vì vậy mà nhà nào ở Aur cũng sạch sẽ, tươm tất, các vật dụng trong nhà như bàn ghế, giường tủ... đều bóng loáng. Thầy giáo Uyên - giáo viên cắm bản, đã giật mình khi thấy anh bạn đồng nghiệp của tôi vứt tàn thuốc lá trước sân nhà của già làng: "May mà không ai nhìn thấy, không thì anh mất điểm với dân bản rồi!". Nước suối cũng được kéo đường ống về đến tận bản. Bể tắm giặt của bản sạch sẽ, nước trong veo, chảy ào ạt cả ngày đêm, mát rượi. Trẻ con ở Aur ăn mặc gọn gàng, biết giữ vệ sinh thân thể dù vẫn còn rụt rè trước người lạ.
Nữ anh hùng của bản
Ấn tượng nhất trong những ngày lưu lại Aur chính là câu chuyện về người nữ anh hùng - "Võ Tòng" của bản.
Dù đã 80 mùa rẫy nhưng giọng nói của mẹ Alăng Thảo - người chiến sĩ du kích năm xưa vẫn nồng ấm. Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, nơi thượng nguồn dòng sông Hương, cô giao liên Alăng Pró - tên gọi ngày ấy của mẹ Alăng Thảo - đã bắn rơi một chiếc máy bay Mỹ chỉ với khẩu súng K44. 16 tuổi, tham gia đội du kích xã, Pró đảm nhận việc giữ liên lạc giữa du kích xã với bộ đội chủ lực đóng bên ngoài. Buổi trưa cuối tháng 5/1966, Pró vào rừng hái rau thì nghe tiếng máy bay gầm rú trên đầu. Chọn một bụi cây rậm rạp để tránh bị phát hiện, chỉ vài phút sau, Pró đã nhìn thấy chiếc trực thăng trên đầu, phía sau còn có thêm 3 chiếc nữa. Không chút đắn đo, Pró cầm súng lựa thế nhằm thẳng "con chim sắt" nổ liền 2 phát đạn. Đến phát thứ 3, "chim sắt" bốc cháy dữ dội rồi rơi xuống khe suối. Từ phía xa, 3 chiếc còn lại lập tức tìm nơi hạ cánh, đưa lính xuống cứu trợ. Pró lần đường rẽ rừng tìm nơi trú ẩn an toàn, tránh sự truy lùng của lính Mỹ.
Alăng Thảo (cầm súng) người anh hùng của Aur. |
Mẹ Alăng Thảo cho chúng tôi xem tấm ảnh Bác Hồ được cất giữ rất cẩn thận: "Sau lần bắn rơi máy bay Mỹ, mẹ được cấp trên gửi tặng giấy khen và ảnh Bác Hồ". Và câu chuyện của nữ anh hùng Alăng Thảo cũng chỉ được kể cho con cháu bên bếp lửa của nhà Gươl. Alăng Thảo chưa từng một lần được tôn vinh. Như để phá tan không khí im lặng của câu chuyện, già Alăng Avi - già làng cũ của bản, gợi ý mẹ Alăng Thảo kể về huyền thoại bắn cọp của mình. Theo Alăng Avi, chừng một năm sau khi bắn rơi máy bay, một mình mẹ Alăng Thảo đã bắn hạ con thú dữ nhất thượng nguồn sông. "Mình nhớ là hồi ấy, cọp dữ là nỗi khiếp đảm của cả dân bản và bộ đội. Nó đã ăn tươi nuốt sống biết bao trẻ em, người già, hại bộ đội bám căn cứ chống Mỹ. Thú rừng cũng vì nó mà cạn kiệt dần" - già Alăng Avi rùng mình nhắc lại. Mẹ Alăng Thảo nhớ lại: Hôm ấy là buổi tối giữa tháng 7/1967, lúc mẹ trên đường về bản sau khi ra ngoài đưa liên lạc cho bộ đội, khi đến ngang dốc Suối thì trời tối mịt, mưa rừng ập xuống nên đành mắc võng, che bạt ngủ chờ sáng mai đi tiếp. Tỉnh dậy sau giấc mơ dữ, mẹ Alăng Thảo nhận thấy có một mùi hôi nồng nặc xung quanh. Bước chân xuống suối rửa mặt, Alăng Thảo giật mình khi thấy một con cọp vằn vện đang chiếu thẳng tia nhìn từ phía bên kia bờ suối, chỉ cách mẹ khoảng 10 thước. "Khoảng cách quá gần nên mẹ cũng không thể bỏ chạy được. Con cọp thì to như con trâu mộng. Không còn cách nào khác, mẹ buộc phải chống trả lại" - mẹ Alăng Thảo nói. Lên đạn khẩu K44, Alăng Thảo nhắm thẳng đôi mắt đỏ au của con cọp rồi bóp cò. "Muốn hạ gục cọp thì chỉ 1 phát duy nhất thôi, nếu không thành công coi như cầm chắc cái chết. Phát đạn trúng đích, nhưng không đủ để hạ gục con mãnh thú. Con cọp lao qua suối, nhắm thẳng vào người mẹ. May mà trước lúc đi xuống suối, mẹ có bật lưỡi lê từ nòng súng để lau chùi quên chưa gập xuống, sẵn đó mẹ dương lên nhắm thẳng cuống họng con ác thú đâm tới. Bị đâm vào chỗ hiểm, con cọp chết sau một lúc giãy giụa. Nhưng sức nặng của con vật cũng khiến cho mẹ bị gãy một cánh tay". Cả bản Ktom thời đó đã đốt lửa ăn mừng suốt 2 ngày liền. Họ mừng lắm lắm vì mẹ Alăng Thảo đã xóa đi nỗi kinh hãi con cọp gây ra suốt một thời gian dài - niềm vui cứ như người dân bản xóa đi một đồn địch. Vậy nhưng những chiến công mẹ có được mấy chục năm trước đến nay vẫn không được các cấp ngành nhắc nhở. Tuy vậy, với người Aur, hơn 40 năm qua, mẹ vẫn là anh hùng của bản, của đồng bào Cơ tu giữa đại ngàn Quảng Nam, Thừa Thiên Huế...
Phóng sự của Hà Ánh Ngọc