Nỗi niềm giữa rừng Pù Mát

Thời sự
SKĐS - Sau hành trình 400km, chúng tôi đã có mặt tại Vườn Quốc gia Pù Mát thuộc xã biên giới Môn Sơn (huyện Con Cuông, Nghệ An).

Sau hành trình 400km, chúng tôi đã có mặt tại Vườn Quốc gia Pù Mát thuộc xã biên giới Môn Sơn (huyện Con Cuông, Nghệ An). Ðường từ trung tâm xã vào bản Cò Phạt vô cùng hiểm trở, muốn vào bản phải đi bằng thuyền độc mộc đuôi én 12CV để ngược thượng nguồn sông Giăng với hàng chục ghềnh, thác. Nơi đây có tộc người Ðan Lai sống hoàn toàn tách biệt với thế giới bên ngoài cùng nhiều hủ tục và những truyền thuyết như huyền thoại.

Đi thuyền trên sông Giăng.

Sông Giăng huyền thoại

Từ đập tràn Phà Lài, chúng tôi tiếp tục xuống thuyền về bản Cò Phạt trên dòng sông Giăng thơ mộng. Theo tiếng bản địa, Phà có nghĩa là Trời, Lài nghĩa là hoa, Phà Lài có nghĩa là hoa của trời. Đây là công trình thủy lợi lớn nhất khu vực phía Tây tỉnh Nghệ An được xây dựng để điều tiết dòng nước hung dữ của sông Giăng. Những con thuyền độc mộc bằng gỗ, lòng thuyền chỉ rộng trong lòng sải tay nhưng dài gần chục mét. Vừa xuống thuyền, mấy cô gái trẻ hét rú lên, chiếc thuyền tròng trành hết nghiêng trái lại nghiêng phải như muốn ụp tất cả xuống dòng nước. Anh lái đò tên Lê Văn Bình cẩn thận giữ chắc thuyền thì chúng tôi mới dám dò dẫm xuống. Máy vừa nổ, chiếc thuyền dài và nhọn như mũi nứa rẽ sóng, lao vun vút trên dòng nước xanh biếc. Cảm giác vừa sợ hãi vừa thích thú xen lẫn. Đang là mùa khô nên dòng nước trong vắt, có đoạn nhìn thấu tận đáy, thi thoảng còn thấy rõ từng đàn cá. Anh Bình cho biết: Trước kia, cá sông Giăng nhiều vô kể. Rừng và cá trên sông Giăng đã nuôi sống người Đan Lai. Những năm gần đây, cá bị đánh bắt nhiều, lại bằng những phương tiện hủy diệt nên đã thưa dần.

Khi mới vào, chúng tôi đã nhờ anh Lê Thành Đô - cán bộ Vườn Quốc gia Pù Mát làm “hướng dẫn viên du lịch”, anh cho hay: Sông có độ dốc đến 17,2% nên dòng chảy rất dữ dằn, nhất là vào mùa lũ. Muốn vào được bản người Đan Lai phải vượt qua 147 thác ghềnh nguy hiểm. Những năm qua, đã có nhiều vụ lật thuyền thương tâm xảy ra, trong đó có cả những vụ nhà báo trên đường vào tác nghiệp. Thấy mọi người tái mặt, anh Bình trấn an: “Mùa ni nước cạn, không sợ chết đuối mô mà chỉ lo lội nước đẩy thuyền thôi”.

Bắt nguồn từ khe Khẳng trong lõi Rừng Quốc gia Pù Mát, sông Giăng dài hơn 100km chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và hợp lưu với sông Lam tại huyện Thanh Chương. Hai bên bờ, đại ngàn rừng nguyên sinh hàng trăm năm tuổi còn chất chứa những thảm thực vật quý hiếm. Càng chạy ngược nguồn, sông càng quanh co và dòng càng hẹp lại. Có chỗ đá ngầm va vào đáy thuyền kêu lục cục. Anh Bình liên tục vặn mình để lái chiếc thuyền chạy luồn lách qua những thác ghềnh với những bãi đá lởm chởm trồi lên giữa dòng một cách ngoạn mục. Ở những khúc cua gấp, dòng cuộn chảy tạo thành những gườm đá dựng đứng và sâu hoắm. Mỗi lần thuyền vào cua, chúng tôi lại thót tim tưởng như sắp lao vào vách đá. Càng đi rừng càng rậm, có chỗ cây ngả tận giữa dòng tạo thành vòm lá khổng lồ, dưới dòng nước lạnh thấu xương dù trời vẫn đang rực nắng. Tiếng chim hót véo von, những thân gỗ to vài người ôm đứng lừng lững vươn lên giữa rừng xanh. Chúng tôi như lạc vào một thế giới thuở hồng hoang chưa in dấu chân người.

Trăn trở Cò Phạt

Vừa đặt chân lên bờ, chúng tôi đã được bà con Cò Phạt đón tiếp trong tiếng hò reo vang vọng cả núi rừng. Trưởng bản Cò Phạt “7X” Lê Văn Thiện cho biết: “Biết tin đoàn vào thăm, chúng tôi mừng lắm. Đêm qua, bà con trong bản chẳng ai chợp mắt được”.

Bí thư Chi bộ La Văn Linh gầy hom hem, khắc khổ nhưng nụ cười thì bẽn lẽn như cậu thiếu niên. Từng làm trưởng bản, rồi lại Bí thư Chi bộ nên anh Linh hiểu khá sâu sắc về văn hóa và những tập tục người bản địa. Nhấp chén trà đặc sánh một cách ngon lành rồi anh trăn trở kể về tập quán dân tộc mình. Mặc dù đã được tuyên truyền nhưng vẫn còn nhiều tập tục lưu truyền, đặc biệt là tục ngủ ngồi. Xa xưa, người Đan Lai không có nhà, chỉ lấy cành cây dựng tạm thành mái lều để ở. Mỗi khi màn đêm buông xuống, cả nhà chỉ dám ngồi quây quần bên đống lửa chợp mắt để canh chừng thú dữ. Lâu dần thành thói quen ngủ ngồi. Cho đến tận bây giờ, trẻ con thì không còn nhưng người cao tuổi vẫn quen tục ngủ ngồi. Người Đan Lai không chỉ ngủ ngồi quanh bếp lửa mà còn có thể ngủ trên cây mỗi khi đi săn bắt, hái lượm không kịp về bản. Phụ nữ sinh con ra liền đưa con nhúng vào nước lạnh sông Giăng để “thử” sức mạnh của người con đại ngàn, sống thì lớn lên thích nghi với môi trường thiên nhiên và khỏe mạnh, chết thì đó là theo ý trời.

Người Đan Lai quan niệm: “Phụ nữ 18 tuổi chưa cưới chồng là ế” nên có rất nhiều “bà mẹ” tuổi 14 - 15. Trai gái có nên vợ thành chồng hay không là do bà mối quyết định, nếu bà mối không tán thành thì dù có yêu nhau đến mấy cũng phải chia tay. Chú rể La Văn Mày vừa bước sang tuổi 15 đã kết hôn với cô dâu La Thị Xuyên khi mới 14 tuổi. Cặp vợ chồng La Văn Bốn và La Thị Lợi cưới nhau khi mới 14 tuổi, nay đã có 2 con nhỏ. La Thị Lý lấy chồng khi mới 14 tuổi, nay chưa đến 20 mà đã nheo nhóc 3 đứa con. Và hầu hết những cặp đôi này đều do bà mối “kết tóc se tơ”!

Tập tục đem lại nhiều nguy cơ nhất cho người Đan Lai vẫn là chuyện cưới xin. Do hàng trăm năm sống cách biệt, không giao lưu với bên ngoài nên thường xảy ra tình trạng hôn nhân cận huyết. Dù nghèo đói nhưng đám cưới tổ chức rất linh đình, ăn uống mấy ngày liền. Do tảo hôn nên sau khi cưới vài ba năm mới đủ tuổi để đăng ký kết hôn và làm lễ cưới lại, lúc này, người con gái mới chính thức là con dâu. Nếu gia đình cô dâu không có điều kiện cưới lại, khi xảy ra rủi ro thì lúc chết phải theo “ma” nhà ngoại chứ không được nhập tổ tiên nhà chồng. Khi em lập gia đình trước anh chị thì phải gọi thầy cúng về “kêu vía”. Kêu vía cho một người thì phải làm thêm một mâm cơm. Nhà có bao nhiêu anh chị chưa lập gia đình trước người em thì phải kêu vía bấy nhiêu lần nên rất tốn kém. Đặc biệt, trong lễ cưới lần hai phải có đầu lợn. Khi mọi người xẻo hết thịt trên đầu lợn ăn thì người phụ nữ phải mang bộ xương đó đặt lên bàn để thờ. Trong quá trình thờ đầu lợn này, dù có mất vệ sinh cũng không được cất đi mà phải để cho chuột hay gió cuốn đầu lợn đi. Khi đó, người phụ nữ Đan Lai nếu có chết thì “ma” mới được về nhà chồng...

Đói nghèo lại đẻ nhiều khiến cuộc sống của người Đan Lai trong vòng luẩn quẩn, khó tìm lối thoát.

Nan giải thoát nghèo,...

Sau bữa cơm chiều thanh đạm, Trưởng bản Thiện dẫn chúng tôi đi dạo một vòng trên con đường bê tông chạy dọc bản. Chỉ tay vào căn nhà mới xây, anh hồ hởi: Nhà văn hóa bản đấy. “Nó” đã trở thành một trong ít công trình đầu tiên được xây bằng gạch trên đất Cò Phạt. Tuy đã được Nhà nước quan tâm nhiều, được bộ đội biên phòng giúp đỡ, song do quá xa xôi cách trở nên đây vẫn là nơi khó khăn nhất. 100% hộ dân vẫn thuộc diện nghèo, đói. Ít năm trước thôi, bà con Đan Lai chủ yếu ăn sắn chứ mấy khi có gạo mà ăn nên nhà cửa cũng toàn mái tranh xiêu vẹo lắm.

Nhớ tác phẩm Hát với sông Giăng của Minh Tâm, một nhà giáo quê  xã Phong Thịnh, huyện Thanh Chương, có đoạn: “Trên bản đồ Tổ quốc/ Sông Giăng không có tên/ Với tình người xứ sở/ Sông Giăng không thể quên…”. Cái tình khăng khít với sông Giăng, với núi rừng Pù Mát khiến nhiều người Đan Lai như Nhà giáo ưu tú La Văn Bốn, thầy giáo La Văn Thám, cô La Thị Hằng… dù được Nhà nước hỗ trợ “thoát ly” ra khỏi rừng để học, song vẫn quay về bản truyền chữ cho con em dân tộc mình. Những ngôi trường mới được xây lên, lũ trẻ Đan Lai được cắp sách đến trường với kỳ vọng sẽ làm thay đổi bản nghèo.

Tiếng “zô, zô” của cánh thanh niên trong bữa rượu vang vọng làm cụ La Văn Thiết chợt tỉnh sau giấc ngủ ngồi bên đống lửa, cụ cho biết: Ở đây, từ già, trẻ, gái, trai đều biết uống rượu. Đã đói nghèo lại đẻ nhiều, cuộc sống khó tìm lối thoát. Thói quen sống gắn bó với rừng, với dòng Giăng khiến công tác tái định cư trở nên gian khó. Năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định phê duyệt Đề án số 280 về việc “Bảo tồn và phát triển bền vững tộc người Đan Lai”. Mục tiêu chính của Đề án trong 3 năm, từ 2007 đến 2009 sẽ tổ chức di dời 146 hộ dân ra 3 điểm tái định cư tại xã Thạch Ngàn. Tuy nhiên, đến nay, sau 5 năm khi đề án đã hết hạn mới chỉ có 42 hộ di dời đến khu tái định cư số 1 ở bản Thạch Sơn. Một trong những khó khăn trong việc di dời đó, bởi như cụ Thiết thì: “Sống ở mô quen đó rồi. Ở đây là nơi chôn rau cắt rốn nên ở đây thôi, không đi mô!”.

Rít một hơi thuốc lào, nhả làn khói cuộn tròn trong không gian, Trưởng bản Thiện buồn rầu: Nơi ở mới có giao thông thuận tiện, người dân được chăm sóc y tế tốt hơn, mỗi hộ được cấp 1,7ha đất đồi và 1,5 sào ruộng trồng lúa nước. Tuy nhiên, do dân trí thấp, các hộ lại đông con nên cái đói vẫn bám dai dẳng. Mặt khác, thói quen sống nhờ săn bắn, hái lượm ở rừng Pù Mát, bắt cá sông Giăng nên họ không muốn di dời. Đặc biệt, nhiều người còn có ý định trở về nên cuộc chiến giữ rừng luôn là bài toán nan giải. Theo anh Phạm Văn Long - cán bộ kiểm lâm ở Cò Phạt thì: Mặc dù mỗi năm đã xử lý hàng chục vụ đánh cá theo kiểu hủy diệt, thu nhiều kíp nổ, dây cháy chậm và nhiều dụng cụ tác nghiệp khác; Lực lượng chức năng cũng đã tăng cường tuyên truyền, tuần tra bảo vệ nhưng nguồn cá quý hiếm trên sông Giăng vẫn có nguy cơ tuyệt chủng. Quyết tâm rất cao nhưng vẫn biết rằng cuộc chiến này còn dai dẳng...

Bài và ảnh:  Nguyễn Việt - Thanh Hội

 

 


Ý kiến của bạn