Nỗi niềm chiếu làng Hới

Xã hội
Làng Hới như một bán đảo được ôm ấp bởi con sông Luộc đỏ nặng phù sa. Từ Hà Nội về đây qua TP. Thái Bình khoảng 150km, nếu từ Hà Nội đi qua tỉnh Hưng Yên ngót chừng 70km.

Khi ấy Nguyễn Trãi còn là Quan Hành khiển đi qua vùng Tây Hồ, gặp người con gái xinh đẹp tựa trăng rằm Nguyễn Thị Lộ quảy chiếu đi bán, ông đọc thơ và cũng không ngờ người con gái bán chiếu kia đối đáp lại bằng câu thơ ý tứ hay đến vậy! Nguyễn Trãi đem lòng yêu người con gái bán chiếu và nàng trở thành thiếp của ông. Nàng quê ở làng Hới, xã Hải Hồ, Ngự Thiên, Hưng Nhân cũ (nay là xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Về làng, nghe lại câu chuyện mang đậm chất huyền thoại xưa, gặp những người thợ dệt chiếu của làng nghề, tôi được nghe về những trăn trở của họ, những người cả cuộc đời gắn bó với nghề truyền thống của tổ tiên truyền lại.

Làng Hới như một bán đảo được ôm ấp bởi con sông Luộc đỏ nặng phù sa. Từ Hà Nội về đây qua TP. Thái Bình khoảng 150km, nếu từ Hà Nội đi qua tỉnh Hưng Yên ngót chừng 70km. Tả Thị lang Thượng thư Phạm Đôn Lễ - người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam đỗ Tam Nguyên dẫn đầu đoàn sứ bộ sang nhà Minh, Trung Quốc, ông quan sát thấy cách thức dệt chiếu của người Trung Hoa, khi về nước xin với vua cho mở nghề dệt chiếu ở quê, khi ông mất, dân làng lập đền thờ và gọi ông là "Trạng Chiếu". Kể từ đó đến nay, làng nghề truyền thống dệt chiếu đã có trên 600 năm tuổi. Và cũng chính từ làng Hới, dân gian xưa có câu ca truyền đến tận bây giờ: "Ăn cơm hom, nằm giường hòm, đắp chiếu Hới".

Chúng tôi gặp anh Nguyễn Quốc Thắng, Hội viên Hội Làng nghề Việt Nam, gia đình anh dệt chiếu có tiếng trong làng nghề này, anh cho biết: "Dệt được 1 tấm chiếu hoàn chỉnh cũng qua nhiều công đoạn. Trước hết là những sợi đay được "đánh" thành sợi. Xưa "đánh" bằng phương pháp thủ công, nay được "chạy" bằng môtơ nên đỡ vất vả hơn. Rồi đến khâu chọn cói, cói phải được phân loại cho thật đều theo từng loại sợi to nhỏ khác nhau thì chiếu mới đều và đẹp". Anh dẫn chúng tôi đến nơi sản xuất, mùi cói thơm ngai ngái, hai người phụ trách" một chiếc go dệt bằng gỗ chiều ngang 1,75m với răng go làm bằng gốc tre đực già có căng sẵn những sợi đay. Người bên cạnh cầm cây văng chao những sợi cói qua go, người ngồi chính diện đập răng go cho những sợi cói ép khít vào nhau, bằng tăm tắp. Khi  chiếu dệt xong qua công đoạn ghim, xén những ria cói thừa. Tiếp đến là khâu in hoa bằng phẩm màu trước khi chiếu được cuộn đưa vào nồi hơi để hấp. "Hấp qua hơi nước thế này phẩm màu sẽ cắn chặt vào mặt chiếu, không phai ra được" - anh Thắng giải thích. Những tấm chiếu được nắng có màu sáng, hoa in trên mặt chiếu đỏ tươi nhưng cũng đượm bao mồ hôi của người làm ra nó. Chiếu được đánh giá chất lượng thành 3 loại: Loại chiếu dặm thường được bán ra thị trường từ 30 - 40 nghìn đồng/đôi, loại chiếu đậu thường (chất lượng trung bình khá) có giá 70 - 80 nghìn đồng/đôi. Loại đẹp nhất là chiếu đậu đặt giá từ 130 - 200 nghìn đồng/đôi. Nếu 2 người ngồi dệt miệt mài, thu nhập một ngày được khoảng 40 - 50 nghìn đồng/ngày.

Thời hiện đại có thêm nhiều sản phẩm chiếu: chiếu nhựa, chiếu trúc nhập từ Trung Quốc, cả Việt Nam cũng sản xuất nhưng nhiều người nằm không quen vì những loại chiếu trên không thoáng, mà giường ga đệm chỉ nằm vào mùa đông. Chiếu Hới vẫn được dân dùng nhiều, sản phẩm chiếu của làng được xuất đi toàn quốc, chủ yếu là từ miền Trung trở ra đến các tỉnh miền núi phía Bắc.

Theo chân anh Thắng đi sâu vào trong làng dệt, dọc 2 bên đường chiếu phơi đỏ rực. Theo tay anh chỉ, trước một hồ nước rộng là đền thờ "Trạng Chiếu" Phạm Đôn Lễ, phía trước là cả một sân rộng chừng 1/3 sân vận động, một ngôi nhà lớn - dấu tích của HTX thời bao cấp nay vẫn được sử dụng làm kho nhập chiếu thành phẩm, bên cạnh lò hấp chiếu nhả hơi nước trắng phau. Tất cả các mặt sân từ ngôi đền ra gần đường làng được tận dụng để phơi chiếu, thậm chí chiếu được phơi trên cả những bức tường bao bằng bê tông. Tôi có ý định thắp hương trong đền Trạng Chiếu, một người làng đứng cạnh bảo: "Văn hoá xã cầm chìa khoá rồi, tìm được thì có mà đến tối".

Qua câu chuyện với lão nghệ nhân Nguyễn Văn Cử, ông Nguyễn Văn Bình, anh Thắng cũng như nhiều người khác trong làng nghề, họ đều có cùng một trăn trở, ước vọng về cói nguyên liệu sản xuất: "Nói thật với chị, chúng tôi là người lao động, lấy công làm lãi thôi. Đay sợi thì không lo vì có thể thu mua được ngay tại địa phương, nhưng bây giờ khó khăn nhất là cói" - lão nghệ nhân Nguyễn Văn Cử cho hay. Tôi băn khoăn: "Cháu cứ tưởng quê mình trồng được cói?". Anh Thắng "chen ngang" xua tay: "Ồ, không cô ơi. Chúng tôi đau đầu nhất là cói nguyên liệu đấy! Đã lâu lắm rồi ở vùng Kiến Xương, Tiền Hải, Thái Thụy, Quỳnh Phụ cung cấp cói nguyên liệu cho làng tôi, đặc biệt mà "vớ" được cói Quỳnh Phụ để dệt chiếu Đậu đặt thì đẹp và bền lắm! Sợi cói vùng Quỳnh Phụ nhỏ, tròn đều tăm tắp... Trăm sợi như một, đôi chiếu dùng có đến mấy chục năm chưa hỏng. Nhưng hiện nay những vùng trồng cói nguyên liệu trên không còn nữa, có chăng là cói khai thác lại, chẳng đáng là bao". "Chúng tôi phải nhập cói tít tận trong miền Nam cơ. Trước đây, có cói Nga Sơn, Thanh Hoá nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 5 - 10% thôi,  còn chủ yếu là cói Long An. Chúng tôi phải đi xa gần 2 nghìn cây số mới mua được cói, tiền xe cộ, ăn uống cộng cả vào lá chiếu nên giá thành đội lên, mà bây giờ cũng chẳng đi mua được nữa bởi đã có người đứng ra thầu hết cả rồi, chúng tôi phải mua lại cói của họ với giá cao hơn, 1xe cói 14 tấn có giá 100 triệu. Đấy là chưa kể lũ lụt, tắc đường, như cơn bão số 6 vừa rồi chẳng hạn, chúng tôi đang sốt hết cả ruột gan vì cói chưa về..."- ông Bình phân trần.

 Người làng Hới vẫn thiết tha với nghề truyền thống.

Theo con số thống kê của UBND xã thì số hộ dệt chiếu là 2.186 hộ, lao động chính trực tiếp dệt chiếu thành phẩm là 4.352 người, sản lượng 1 năm đạt trên 36 nghìn lá chiếu với tổng thu nhập 79.649.460 triệu đồng. Một con số không nhỏ! Dân làng Hới sống chết bám lấy nghề truyền thống của cha ông để lại. Họ có cùng một mong muốn có những vùng qui hoạch trồng cói ở các huyện trên để có cói nguyên liệu phục vụ dệt chiếu vì ở đấy có vùng nước lợ, thổ nhưỡng rất hợp cho sự tăng trưởng của cây cói, chăm sóc rất dễ, chỉ cần bón phân đạm, lân là sẽ cho năng suất cao. "Cô ạ, không phải tôi làm nghề mà nói hay cho nghề của mình đâu, tôi chỉ tính thế này là ra ngay. 1 sào  thu được 7 tạ cói nguyên liệu giá 8 triệu đồng, 1 ha là có 200 triệu rồi. Thái Bình có cánh đồng 50 triệu, làm gì bằng cói, tỉnh cũng chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng, nhiều vùng có cánh đồng 50 triệu, đó là mấy cánh đồng gần Vĩnh Bảo, Hải Phòng trồng thuốc lào hoặc trồng hoa ở Đông Hưng... Nhưng thực tế có phải 50 triệu đâu, chẳng ăn thua, tiền gốc cũng mất mấy chục triệu rồi còn gì! Tỉnh bây giờ cho đầu tư nuôi tôm, cua vùng biển, trúng mùa tôm lãi cũng lớn lắm nhưng chăm lo ngày đêm vất vả như nuôi con mọn, thức ăn, thuốc phòng dịch, có mùa tôm cua bị dịch chết đỏ cả mặt đầm, đi tong vài trăm triệu như bỡn. Trong Hội nghị làng nghề vừa rồi tôi có đề nghị tỉnh cần đầu tư cho vùng cây công nghiệp ở các huyện có thể trồng cói, nhưng vẫn chỉ là đề đạt thôi, còn thực tế thì..." - anh Thắng lập luận.

Lúc trong làng quay trở ra, tôi được mọi người dẫn vào từ đường nhà ông Nguyễn Văn Phán, trưởng tộc họ Nguyễn của làng, cháu đời thứ 20 của Nguyễn Thị Lộ. Phía bên phải bàn thờ tổ là bàn thờ "vị rể" của làng - Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi và  Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ, bên cạnh phía dưới là Bảng vàng ghi công các liệt sĩ họ Nguyễn đã ngã xuống trong 2 cuộc vệ quốc vĩ đại của dân tộc. Tôi chắp tay khấn, khói hương nghi ngút. Nếu quả thật có một thế giới khác của những âm hồn thì tôi tin rằng người con gái xinh đẹp bán chiếu Nguyễn Thị Lộ khi xưa sẽ đồng cảm, sẻ chia nỗi vất vả và ước vọng của dân làng nghề cả đời vì nghề chiếu...

Lúc sắp chia tay những người dân làng nghề, 1 cụ già chống gậy mặt nhăn nheo những vết hằn của thời gian, đôi tay thô ráp nắm chặt tay tôi: "Cô ơi, thôi thế cô đi may mắn nhé! Cô đi nhiều, nếu có lên tỉnh thì cô cho chúng tôi gửi nhời rằng, tỉnh xem xét để có vùng trồng cói nguyên liệu thì dân làng tôi được nhờ lắm!".

Rời làng trong cái nắng hanh hao của chiều thu, đâu đây phảng phất mùi chiếu mới thơm ngai ngái. Ra về mang theo những trăn trở, niềm ước vọng của những người dân làng nghề dệt chiếu. Chẳng biết đến bao giờ ước vọng của làng nghề có tuổi trên 600 năm mơi trở thành hiện thực?!       

Phóng sự của: NGỌC ANH - KIM HOÀNH


Ý kiến của bạn