Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW

Thời sự
SKĐS - Sáng 30/6, tại Nhà Quốc hội, Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã khai mạc trọng thể.
Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW- Ảnh 1.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Hội nghị tại điểm cầu Diên Hồng (Hà Nội). Ảnh: Media Quốc hội

6 chuyển đổi lớn về tư duy phát triển

Trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cho biết, đây không chỉ là nghị quyết về thu hút đầu tư nước ngoài mà còn là nghị quyết về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mới; đánh dấu bước chuyển quan trọng từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển hệ sinh thái kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiện đại, hiệu quả và bền vững, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.

Theo Phó Thủ tướng Thường trực, có thể khái quát tinh thần cốt lõi của Nghị quyết bằng nhận định: "Nghị quyết số 10-NQ/TW chuyển trọng tâm từ mục tiêu thu hút các dòng vốn quốc tế sang phát huy hiệu quả các dòng vốn đó để cùng với nội lực của đất nước kiến tạo những năng lực phát triển mới của quốc gia."

Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW- Ảnh 2.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW.

Phó Thủ tướng Thường trực cho biết, những tư tưởng chỉ đạo và điểm đổi mới cốt lõi của Nghị quyết có thể khái quát thành 6 chuyển đổi lớn về tư duy phát triển:

Thứ nhất, chuyển từ tư duy thu hút đầu tư nước ngoài sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết tiếp cận toàn diện hơn, bao quát cả đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn và các thiết chế tài chính quốc tế; coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế, phát triển hài hòa với khu vực kinh tế trong nước để phục vụ mục tiêu phát triển quốc gia.

Thứ hai, chuyển từ coi trọng quy mô vốn sang coi trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Trọng tâm không còn là thu hút nhiều dự án hơn mà là lựa chọn các dự án có công nghệ tiên tiến, đổi mới sáng tạo, quản trị hiện đại, có khả năng lan tỏa và đóng góp thiết thực vào việc nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Thứ ba, chuyển từ ưu đãi theo đầu vào sang ưu đãi theo kết quả. Chính sách ưu đãi được đổi mới theo hướng gắn với việc thực hiện các cam kết về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.

Thứ tư, chuyển từ phát triển FDI đơn lẻ sang phát triển đồng bộ hệ sinh thái các dòng vốn quốc tế. Đây là điểm mới nổi bật của Nghị quyết khi đặt đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế và các không gian phát triển mới (như khu thương mại tự do, các đặc khu kinh tế...) trong một chỉnh thể thống nhất nhằm nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực.

Thứ năm, chuyển từ quản lý đầu tư sang kiến tạo môi trường đầu tư và phát triển. Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, phát triển hạ tầng, nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo để tạo môi trường thuận lợi cho các nguồn lực trong nước và quốc tế cùng phát triển.

Thứ sáu, chuyển từ cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương sang điều phối phát triển ở tầm quốc gia. Nghị quyết yêu cầu tăng cường liên kết vùng, liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với khu vực kinh tế trong nước, phát huy vai trò của các cực tăng trưởng và các trung tâm tài chính, đổi mới sáng tạo để nâng cao hiệu quả phát triển chung của nền kinh tế.

Phấn đấu trở thành điểm đến hàng đầu của các dòng vốn quốc tế chất lượng cao

Về mục tiêu phát triển của Nghị quyết, Phó Thủ tướng Thường trực cho biết, Nghị quyết đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh trong thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao phục vụ đầu tư phát triển. Đồng thời, quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan tỏa với các khu vực kinh tế trong nước; thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng toàn cầu; góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng cường năng lực cạnh tranh, khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia.

Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW- Ảnh 3.

Các đại biểu dự Hội nghị tại điểm cầu Hội trường Diên Hồng (Hà Nội).

Đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục tiêu tạo chuyển biến căn bản về chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, với 4 định hướng lớn gồm: thu hút 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký, trong đó vốn thực hiện đạt 150-200 tỷ USD; nâng cao chất lượng dòng vốn, phấn đấu 70-75% vốn đăng ký mới đến từ các nền kinh tế phát triển và trên 50% tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; nâng hạng thị trường chứng khoán lên thị trường mới nổi trước năm 2030, tạo nền tảng thu hút mạnh mẽ hơn các dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế.

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu trở thành điểm đến hàng đầu của các dòng vốn quốc tế chất lượng cao; đồng thời là trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và điều hành khu vực của nhiều tập đoàn đa quốc gia, qua đó nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phấn đấu chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp khoảng 30% GDP.

Chủ trì tại điểm cầu Bộ Y tế là GS.TS Phạm Minh Khuê - Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Bộ Y tế. Ảnh: Trần Minh

Chủ trì tại điểm cầu Bộ Y tế là GS.TS Phạm Minh Khuê - Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Bộ Y tế. Ảnh: Trần Minh

7 nhóm đột phá hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định hệ thống nhiệm vụ, giải pháp toàn diện, có thể khái quát thành 7 nhóm đột phá:

Thứ nhất, đổi mới nhận thức, thống nhất tư duy trong toàn hệ thống chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế và là động lực quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thứ hai, đột phá về thể chế, tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và có sức cạnh tranh quốc tế; đổi mới chính sách ưu đãi theo hướng gắn với kết quả thực hiện các cam kết về công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực và phát triển bền vững.

Thứ ba, phát triển đồng bộ nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng, hạ tầng số và dữ liệu, tạo nền tảng thu hút các dự án công nghệ cao và nâng cao chất lượng các dòng vốn đầu tư.

Thứ tư, định hướng thu hút đầu tư thế hệ mới, ưu tiên các dự án công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, trung tâm nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các ngành có giá trị gia tăng cao.

Thứ năm, nâng cao hiệu quả lan tỏa của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, phát triển công nghiệp hỗ trợ, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, qua đó nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ sáu, phát triển đồng bộ đầu tư gián tiếp nước ngoài và thị trường tài chính; đẩy mạnh nâng hạng thị trường chứng khoán, phát triển thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do và các thiết chế tài chính hiện đại để nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực.

Thứ bảy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; tăng cường điều phối ở tầm quốc gia, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý đầu tư, nâng cao năng lực dự báo, giám sát và bảo đảm môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, an toàn.

Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW- Ảnh 5.FDI tỷ đô đổ về, Nghệ An khát nhân lực chất lượng cao

SKĐS - Suốt nửa năm qua, vị trí trưởng bộ phận xuất nhập khẩu tại Công ty TNHH Kyungshin Việt Nam vẫn chưa thể tuyển được lao động phù hợp dù doanh nghiệp sẵn sàng trả mức lương từ 20 - 25 triệu đồng/tháng.


Ý kiến của bạn