Đang mải miết với chồng bệnh án thì có bệnh nhân nhập viện. Ở bệnh viện chuyên khoa tâm thần tuyến cuối này, bệnh nhân trông chẳng khác với những người bình thường là mấy, duy chỉ đôi mắt khá đặc biệt của anh làm tôi phải chú ý: đôi mắt mệt mỏi kiệt sức và đau đáu một nỗi buồn sâu thẳm.
Anh là con cả trong một gia đình có 4 người con, vất vả từ nhỏ. Khi giặc Mỹ xâm lược, theo tiếng gọi của Tổ quốc, anh nhập ngũ vào chiến đấu tại chiến trường Đông Nam bộ. Sau bao tháng năm chiến đấu gian khổ, khi đất nước hoà bình, anh trở về quê hương. Hoà trong niềm vui cùng cả nước, niềm vui riêng đã đến khi anh cưới được người yêu dấu đã chờ đợi anh bao năm chiến tranh. Niềm vui đó được nhân lên gấp bội khi vợ anh có tin vui. Anh chị khắc khoải mong chờ quả ngọt của tình yêu, đó là đứa con đầu lòng sẽ chào đời. Niềm vui như vỡ oà khi cậu con trai đầu lòng chào đời.
Nhưng câu chuyện của hai người lại mới bắt đầu từ đây, đứa con ra đời có lớn mà không có khôn, trông cháu thật dại khờ, ngờ nghệch, rồi cháu chẳng học được một chữ nào. Nhìn bao đứa trẻ khác vui đùa và mỗi khi chúng cười, cả thế giới như bừng sáng thì lòng anh chị lại đau xót như bị ai xát muối. Anh tự nghĩ: mình là người khoẻ mạnh, bao nhiêu năm chiến trường gian khổ là vậy, mọi người thì sốt rét liên miên mà mình có sao đâu, vợ lại là con gái thuần nông sức vóc dẻo dai, sao con sinh ra nông nỗi vậy. Càng đau lòng hơn khi có những lời ác khẩu sau lưng rằng anh chị kiếp trước ăn ở thế nào nên bị quả báo, những lời nói đó như những lưỡi dao sắc nhọn cứa sâu vào lòng anh chị. Thế rồi, khi đài báo nói về chất độc màu da cam ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe con người, anh chợt giật mình nhớ rằng thời gian ở chiến trường, anh đã ở khá lâu tại nơi giặc Mỹ rải nhiều thứ chất độc đó. Liệu mình có bị như thế không nhỉ? Anh tự hỏi, còn chị chỉ biết khóc thầm.
Thế rồi thời gian trôi đi, đó chính là liều thuốc để xoá mờ đi vết thương, với niềm tin mộc mạc thuần khiết của người nông dân: chắc gì những điều đài báo nói đã đúng. Chị tiếp tục mang thai, niềm tin đó đã đúng, anh chị thêm hai cháu gái ra đời khá kháu khỉnh như bao đứa trẻ khác. Niềm vui lại được nhen nhóm trong gia đình nhỏ bé của hai người.
Trong gia đình, anh là con trai cả, lại là con một nên tuy nhà chẳng khá giả gì nhưng anh đã thuyết phục chị sinh thêm một cháu nữa để nối dõi theo truyền thống các gia đình Việt Nam. Chiều và thương chồng, chị đã đồng ý. Đứa trẻ được mong đợi đúng là một cậu con trai, nhưng buồn hơn, cậu không thoát khỏi số phận giống người anh. Thật không còn gì có thể mô tả được nỗi đau của anh chị lúc bấy giờ. Những sóng gió tưởng chừng như đã lãng quên, nay lại thổi bùng lên dữ dội trong gia đình nhỏ bé ấy. Trước con mắt của vợ, của bố mẹ, anh trở thành kẻ tội đồ. Nhưng rồi anh vẫn là người tỉnh táo nhất, với ý nghĩ hãy cứu lấy các con của mình, anh chị đã âm thầm tìm thầy tìm thuốc để cứu chữa cho các con. Bao nhiêu tiền của dồn vào những lần chạy chữa tốn kém không có hồi kết, gia đình càng ngày càng khánh kiệt, các cháu đã không giúp đỡ được gì mà ngày càng phá phách. Vừa buồn phiền, vừa lo ăn, vừa lo chạy chữa cho các con trong bao năm nên anh đã trở nên gầy rộc, mất ăn mất ngủ...
Bằng một giọng buồn buồn, anh nói với tôi: "Chẳng biết chất da cam, da quýt gì đó ảnh hưởng tới sức khoẻ đến đâu, chỉ riêng việc lo chạy chữa cho các cháu cũng đã đủ làm cho tôi phát bệnh rồi bác sĩ ạ". Nhưng còn một nỗi lo nữa đau đáu mà bấy lâu nay anh vẫn giấu kín trong lòng, nỗi lo đó đã làm anh dằn vặt mất ăn mất ngủ bao năm tháng đến nỗi phát bệnh trầm trọng. Đó là khi biết cả hai cháu đều bị chậm khôn lẽ ra phải đưa các cháu đi khám và điều trị sớm có bài bản tại các cơ sở chuyên khoa tâm thần thì anh chị lại chọn con đường điều trị ngoài tốn kém. Thắc mắc, tôi gặng hỏi thì anh mới trút được nỗi niềm mang nặng bấy lâu nay với một giọng bộc bạch ngấn nước mắt. Anh nói: "Vẫn biết vậy, bác sĩ ạ, nhưng từ khi biết chất da cam có ảnh hưởng đến con cái, hai cháu trai đã vậy nhưng còn hai cháu gái thì bình thường chứ có tội gì đâu. Thà mình đi chữa ngoài tuy tốn kém nhưng may ra có thể cứu được con mà vẫn giữ được tiếng cho các con gái để sau này chúng còn có cơ hội lập gia đình và tìm được việc làm nữa chứ. Ai mà dám lấy con của người nhiễm chất độc da cam, phải không bác sĩ?". Trong lòng tôi cảm thấy một cái gì đó tan vỡ, xót xa. Từ trước đến nay, tôi chỉ biết những điều thương tâm do chất độc màu da cam đã gây ra qua những hình ảnh đài báo đưa tin, nhưng nghe anh nói tôi mới chợt vỡ lẽ ra mình còn biết quá ít ỏi về cuộc sống của những con người này. Họ đúng là những con người sống hiền lành, cam chịu mà không hề trách móc số phận. Tôi giật mình nhớ đến không ít các trường hợp khác có hoàn cảnh giống như anh chị, khi được điều tra để có chế độ chính sách cho nạn nhân chất độc da cam thì họ lại có thái độ như lảng tránh bằng những câu như "Tôi đánh mất giấy tờ" hoặc "Thực ra nơi tôi chiến đấu ít bị ảnh hưởng"... Phải chăng nhiễm chất độc màu da cam đã trở thành “nhãn hiệu”, một "thương hiệu" kiểu như bệnh tâm thần hoặc nhiễm HIV, những căn bệnh mà người đời thường khó cảm thông, sợ hãi và xa lánh. Có phải vì thế mà đã không ít người từ chối nhận chế độ trợ cấp vì không muốn thừa nhận mình nhiễm chất độc đáng sợ này, vì điều đó có thể ảnh hưởng đến tương lai, hạnh phúc của con cái họ. Họ thà sống nghèo đi một chút, thiếu thốn hơn một chút để cố quên đi nỗi ám ảnh dioxin!
BS. Minh Anh