Slogan mới của du lịch Việt Nam “Việt Nam - Vẻ đẹp bất tận” - Vietnam-Timeless Charm, có một chút gì làm băn khoăn không chỉ với những người làm du lịch mà còn đối với du khách. Và điều này càng rõ hơn khi đến với những di sản thế giới ở Việt Nam.
Tính đến năm 2012, Việt Nam được UNESCO công nhận 16 di sản thế giới và vẫn còn nhiều di sản khác đang trong diện lập hồ sơ. Nhưng khi đã trở thành di sản thế giới, liệu di sản có còn mang “vẻ đẹp bất tận” với đúng ý nghĩa của nó? Năm 2012, ngành du lịch Việt Nam lấy vùng duyên hải Bắc Trung bộ - Huế với chủ đề “Du lịch di sản” làm năm du lịch quốc gia. Ngành du lịch đã đưa một chương trình du lịch di sản với vệt di sản thế giới ở Việt Nam vào chương trình. Bắt đầu của “con đường di sản” là Thành nhà Hồ (Thanh Hóa), theo con đường Bắc-Nam dọc duyên hải, lần lượt là động Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình); TP. Huế; TP. Hội An; Thánh địa Mỹ Sơn. Nhưng cũng từ “con đường di sản” này đã lộ ra rất nhiều vấn đề và nó làm cho slogan “Việt Nam - Vẻ đẹp bất tận” trở thành một khẩu hiệu khá mơ hồ, không thực tế.
Du lịch vùng duyên hải Trung bộ
Theo như báo cáo của ngành du lịch, năm du lịch quốc gia 2011 được trải đều ở các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ. Lượng du khách đạt đến 12 triệu lượt, trong đó, khách quốc tế đạt hơn 2,68 triệu lượt, thu nhập từ du lịch đạt khoảng 12 nghìn tỷ đồng (tăng 25%) nhưng sản phẩm du lịch vẫn đơn điệu, liên kết du lịch vùng chưa chặt chẽ. Ngoại trừ hai địa phương là Đà Nẵng và Khánh Hòa đã tạo được thương hiệu du lịch biển, các tỉnh còn lại đều chưa tạo được bước đột phá.
Năm 2012, với dự kiến “con đường di sản”, hy vọng sẽ có được những “gặt hái” thành công mọi mặt cho ngành du lịch. Trước tiên là Thừa Thiên Huế sẽ khai thác các tài nguyên du lịch mới bằng việc tập trung vào dòng sản phẩm như lễ hội độc đáo (vật làng Sình, vật làng Thủ Lễ…); du lịch văn hóa tâm linh (hệ thống chùa Huế, Thiền viện Trúc Lâm - Bạch Mã, Trung tâm Văn hóa Huyền Trân…) cùng với việc liên kết khai thác các sản phẩm du lịch di sản văn hóa, truyền thống. Ngoài ra, sản phẩm du lịch dựa trên quá trình sản xuất thủ công ở các làng cổ cũng sẽ được quan tâm như làng cổ Phước Tích, Bao La, Thanh Tiên, Thủy Thanh…
Bên cạnh đó, du lịch kết hợp chữa bệnh tại các khu nước khoáng, các loại hình sinh hoạt văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc ít người, hay du lịch gắn với nghệ thuật ẩm thực cung đình, dân gian… Nhưng có lẽ cũng chỉ có Thừa Thiên Huế là lên một “kế hoạch” đồ sộ, phong phú với nhiều sản phẩm dành cho khách du lịch, còn tất cả các di sản còn lại của “vệt” di sản này thì gần như “có gì làm nấy”, chưa thấy một dự án, kế hoạch gì để quảng bá cho di sản. Thậm chí chưa thấy có một liên kết nào về “con đường di sản” được vạch ra.
Việc thả hoa đăng tùy tiện làm sai ý nghĩa của hình thức này. |
Khi di sản bị coi là... “máy in tiền”
Nếu như không quá lạc quan với việc công nhận là di sản thế giới của UNESCO cho Thành nhà Hồ thì quả thật khi tới đây, khó mà có cảm giác là đang chứng kiến một công trình kiến trúc thành quách hùng vĩ bằng đá, đại diện độc nhất và độc đáo của cả khu vực từ hơn 6 thế kỷ trước. Một cổng thành đá trơ trọi, các bức tường thành rời rạc cách xa nhau, những dấu vết của một phế tích gần như rất ít. Di sản vẫn chỉ là dạng “thô”, khó hấp dẫn khách tham quan. Với động Phong Nha - Kẻ Bàng, để có thể chiêm ngưỡng kỳ quan nhũ đá trong hang động cũng là một sự thách thức với du khách. Mùa mưa thì khó có thể vào hang động vì nước mênh mang ngay từ bên ngoài, mùa nắng thì việc vào hang cũng thật khó khăn vì những điều kiện bảo đảm an toàn cho du khách gần như không có.
Ở Thừa Thiên Huế, sự “đụng tay, đụng chân” của việc được gọi là “trùng tu” hay khai thác di sản TP. Huế đã làm hỏng rất nhiều ý nghĩa đích thực của di sản. Ngoài việc phá cũ xây mới một cách vô ý thức còn là sự thiếu cơ sở khoa học, thiếu kiến thức về việc trùng tu các công trình kiến trúc, làm cho sai lệch nguyên gốc. Chưa kể, một số hình thức hoạt động văn hóa mang tính tâm linh đã bị lạm dụng, trở thành một thú vui. Điển hình nhất là thả hoa đăng trên sông Hương (và cả sông Hoài của TP. Hội An). Trong tín ngưỡng đối với phật tử Việt Nam, hoa đăng được dâng cúng hoặc thả trôi trên các dòng sông nhằm tưởng nhớ đến người đã khuất và thường diễn ra vào đêm rằm, hay những ngày lễ, Tết và trở thành một phong tục đẹp.
Thế nhưng, gần đây, phong tục thả hoa đăng đang có xu hướng trở thành món hàng kinh doanh bị lợi dụng trên nhiều điểm du lịch ở miền Trung. Nghe ca Huế trên sông Hương, du khách luôn bị mời chào mua đăng để thả vào bất kỳ lúc nào tạo cảm giác phản cảm, đồng thời gây ô nhiễm môi trường dòng nước. Buồn một nỗi, nhiều du khách nước ngoài không hiểu ý nghĩa của nó và coi đó như một thú tiêu khiển của người Việt. Hay như với Thánh địa Mỹ Sơn, nếu như năm 1999, khi di tích này trở thành di sản văn hóa thế giới, khách đến tham quan chỉ là 27.104 lượt thì đến năm 2011 đã tăng lên hơn 7 lần (209.032 lượt), doanh thu từ vé đạt gần 11 tỷ đồng.
Trung bình khu di tích đón từ 500 - 700 khách/ngày, cá biệt những ngày cuối tuần hoặc lễ, Tết, lượng khách tăng lên 1.200-1.500 khách, chủ yếu tập trung cao độ từ khoảng 9-11 giờ sáng, chen chúc trong một không gian hẹp. Chính điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn tại của di sản, do những cộng hưởng vật lý từ người và xe cộ, tạo nên độ rung, ảnh hưởng không ít đến nền móng cũng như kiến trúc của di sản, trong khi việc trùng tu và công tác bảo tồn không thường xuyên, chưa thật sự chuyên nghiệp.
Phải chăng lợi nhuận khổng lồ đã biến di sản thành “máy in tiền” bất kể nó có còn là “vẻ đẹp bất tận” không.
Đối với những di sản hang động phải tạo điều kiện thuận lợi cho du khách tham quan đồng thời phải bảo vệ, giữ gìn. |
Ði tìm một giải pháp thiết thực cho di sản
Hầu hết các khu di sản và bảo tồn ở Việt Nam được UNESCO công nhận đều chưa có công cụ (phương pháp) quản lý du lịch theo tiêu chuẩn quốc tế. Vì vậy, từ năm 2009, UNESCO đã làm thí điểm lấy tỉnh Quảng Nam xây dựng chiến lược lồng ghép văn hóa và du lịch dựa trên phương pháp tiếp cận tổng thể về hai phương diện: phát triển du lịch bền vững và bảo tồn các di sản và giá trị văn hóa. Ngoài ra, từ năm 2009-2011, hai phương án đào tạo hướng dẫn viên về di sản và kế hoạch quản lý du khách đã được UNESCO áp dụng thí điểm tại các di sản Hội An, Mỹ Sơn và Cù Lao Chàm (Quảng Nam).
Chương trình này đã cung cấp kiến thức toàn diện về di sản thế giới cho chính quyền địa phương và hơn 100 hướng dẫn viên, góp phần quản lý, bảo vệ, khắc phục khó khăn nảy sinh do tốc độ tăng trưởng hoạt động du lịch, cải thiện chất lượng thông tin tại điểm đến. UNESCO tiếp tục hỗ trợ xây dựng lộ trình đào tạo hướng dẫn viên, theo hướng tới năm 2015, tất cả hướng dẫn viên tại các điểm di sản thế giới ở Việt Nam sẽ được đào tạo bài bản theo chuẩn quốc tế.
Đó là “trách nhiệm” của Tổ chức UNESCO với di sản do mình phong tặng và công nhận. Nhưng với chủ nhà Việt Nam thì sao? Không thể để di sản chỉ là “máy in tiền” và đối xử theo kiểu khai thác tối đa lợi nhuận, không đếm xỉa gì đến “vẻ đẹp bất tận” của di sản. Ví dụ như với di sản Thành nhà Hồ, cần phải tạo một không gian di sản đủ lớn, đủ rộng, có nhà trưng bày các di vật, có những cứ liệu khoa học về thành quách, không là hiện vật thì cũng phải được xem bằng hình ảnh tư liệu khảo cổ hay phục dựng bằng hình ảnh 3D.
Hay với TP. Huế, đừng biến tất cả những hoạt động văn hóa thành một kiểu kinh doanh văn hóa, làm mất đi ý nghĩa đích thực của di sản. Còn với Thánh địa Mỹ Sơn, có lẽ cũng nên tham khảo cách điều phối du khách sao cho hợp lý hơn, dàn đều thời gian trong ngày để tránh tạo áp lực lên di sản. Và điều quan trọng nhất, đã tới lúc ngành du lịch Việt Nam phải có những chiến lược đào tạo nhân sự chuyên nghiệp, kết hợp với các bộ, ngành khác để có một đội ngũ chuyên môn cao chuyên biệt về di sản, luôn “sống chết, vui buồn” cùng di sản để có thể giữ gìn, bảo tồn, khai thác di sản, mang lại lợi nhuận tốt nhất cho chủ nhân.
Minh Châu