DÒNG SỰ KIỆN

Đường dây nóng:

1900 90 95 duongdaynongyte@gmail.com
0901727659 bandientuskds@gmail.com
Niềm tin có thể chữa bệnh?
07:41 05/11/2015 GMT+7
Suckhoedoisong.vn - Hiện nay thường có các thông tin nhan nhản trên mạng như: “Ông X. bị ung thư, bác sĩ “chê” cho về, ông ta tin và uống dược thảo Y. đã khỏi bệnh hoàn toàn”. “Dược thảo Y.” trong thông tin có thể thay bằng “thực phẩm chức năng thần kỳ A.” hay “liệu pháp tuyệt vời B.” hay... Những trường hợp vừa nêu trong thực tế có người đã khỏi bệnh. Thế dựa vào lòng tin người có thể khỏi bệnh hay không?

Trong quyển sách “Nơi không có bác sĩ” (Where there is no doctor, ở ta dịch và xuất bản với tựa đề: “Chăm sóc sức khỏe”), bác sĩ David Werner, tác giả cuốn sách, đã kể lại một trường hợp: “Có lần tôi thấy bệnh nhân nhức đầu dữ dội. Một phụ nữ đưa anh ta miếng khoai mài bảo rằng đây là thuốc giảm đau rất mạnh. Anh ta tin lời đã ăn nó và kết quả là khỏi đau nhanh chóng”.

Trong một số nghiên cứu đúng bài bản khoa học, người ta đã chứng minh chỉ cần dùng “thuốc vờ” (tức thuốc giả và người bệnh tin là thuốc thật) có thể giúp người ta giảm đau không khác gì dùng thuốc giảm đau paracetmol với tỉ lệ xấp xỉ 50% (tức một nửa số người dùng thuốc vờ hết đau thật sự). Ở đây, yếu tố tâm lý của người bệnh đã được tác động để phát huy tác dụng tích cực của nó. Khi người bệnh được cho dùng một chất nào đó không phải là thuốc, nhưng nếu người đó có sự tin tưởng tuyệt đối đó là thuốc thật, dùng chất đó và khỏi bệnh thì hiện tượng đó được gọi là “hiệu ứng placebo”. Trong chừng mực nào đó, có thể ghi nhận hiệu ứng placebo để giải thích những vụ việc liên quan đến việc chữa bệnh “kỳ lạ” mà nhiều người cho rằng khoa học khó có thể giải thích được. Đó là việc dùng nước lạnh, bùa chú, hay bất cứ thứ gì không phải là thuốc, nói chung là dùng những phương tiện, phương cách không theo y học chính thống, nhưng có sự tin tưởng của người bệnh vào tác dụng của chúng vẫn có thể chữa được bệnh.

“Placebo” có nguyên nghĩa là “Tôi làm vui lòng”, ý nói bác sĩ sẽ tác động đến tâm lý của người bệnh, tạo cho họ sự phấn khởi, tin tưởng để mau hết bệnh. Trong quá trình điều trị bệnh, thầy thuốc thường khai thác tối đa yếu tố tâm lý để giúp quá trình bệnh diễn tiến tốt. Bác sĩ có mối quan hệ tốt với bệnh nhân, cung cách khám chữa bệnh đúng mực, nói năng nhẹ nhàng, thân tình, giải thích rõ ràng, cặn kẽ sẽ giúp bệnh nhân ổn định về mặt tâm lý và giúp việc điều trị bằng thuốc hoặc bằng phương thức trị liệu nào đó sẽ nhanh và tốt hơn. Không hiếm trường hợp đã xảy ra chỉ vì một lời nói của bác sĩ mà làm cho bệnh của bệnh nhân thêm nặng hơn. Có một số phương thức điều trị không dùng thuốc mà dựa hẳn vào yếu tố tâm lý như thôi miên, tự kỷ ám thị, thiền định… để ổn định tâm lý và từ đó, người bệnh khỏe hẳn. Trong quá trình điều trị bệnh, bác sĩ điều trị có thể cho một thứ thuốc để khai thác hiệu năng placebo. Thí dụ, bệnh nhân bị rối loạn không cần dùng đến thuốc, nhưng lại có tâm lý không thể cưỡng là phải được dùng thuốc, bác sĩ có thể cho dùng vitamin để khai thác tác dụng tích cực của yếu tố tâm lý. Và thuốc trong trường hợp này là chất không có tác dụng chữa bệnh thật sự, được gọi là placebo (“giả dược” hoặc “thuốc vờ”). Người bệnh dùng placebo do tin tưởng đó là thuốc chữa bệnh thật sự và có thể khỏi bệnh.

Tuy nhiên, ta cần xem việc chữa bệnh bằng yếu tố tâm lý chỉ là biện pháp hỗ trợ, chứ không thể thay thế cho tất cả các phương thức trị liệu của nền y học chính thống. Cũng như theo y học chính thống, thuốc phải là những chất có tác dụng thực sự dùng để điều trị, phòng bệnh và chẩn đoán bệnh. “ Có tác dụng” nghĩa là thuốc có tác dụng vật chất, hấp thu vào trong cơ thể sau đó được chuyển hóa bài tiết để đạt hiệu quả chữa bệnh, phòng bệnh, chẩn đoán, chứ không phải chỉ dựa vào tin tưởng nào đó, tức không dựa vào yếu tố tâm lý không thôi, mà khỏi bệnh.

Trong y học chính thống, trong quá trình nghiên cứu để tìm ra và công nhận để đi sản xuất một thuốc mới, người ta phải loại bỏ hoàn toàn yếu tố tâm lý trong các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng đối với thuốc. Để loại trừ yếu tố tâm lý , người ta thường sử dụng phương pháp mù đôi (double blind study).

Trong phương pháp mù đôi, những người bệnh tham gia nghiên cứu được chia làm hai nhóm ngẫu nhiên và giống nhau ở một số đặc điểm (như tuổi tác, giới tính…), một nhóm sẽ được điều trị bằng thuốc cần được thử nghiệm trong nghiên cứu, nhóm thứ hai được điều trị bằng placebo có hình dạng kích cỡ, màu sắc, mùi vị giống như thuốc thật. Thuốc mới thử nghiệm chỉ được đánh giá là có tác dụng thật sự khi nhóm một có tỷ lệ tính theo thống kê là khỏi bệnh, trong khi nhóm hai (nhóm placebo) có tỉ lệ được xem là không khỏi bệnh. Tỉ lệ khỏi bệnh ở nhóm một không nhất thiết 100%, chỉ cần 60 - 70%, nhưng quan trọng là hơn hẳn nhóm placebo. Gọi là “mù đôi” vì cả người bệnh lẫn bác sĩ chỉ định thuốc không biết thuốc nào là thuốc thật, thuốc nào là placebo.

Khi tìm hiểu để sử dụng một thuốc, bác sĩ chỉ tin cậy thông tin theo “y học thực chứng” (evidence - based medicine, viết tắt EBM) tức là các bác sĩ chỉ tin dùng các thuốc đã chứng minh tác dụng hiệu quả thực sự khi đã trải qua các thử nghiệm lâm sàng đúng quy cách khoa học và được thông tin từ các y văn đáng tin cậy, chứ không tin một cách mù quáng theo những lời đồn đại.

Như vậy, đối với người bệnh, đặc biệt bệnh ung thư, “tin để khỏi bệnh là việc có khi cần nhưng không phải là tất cả. Người bệnh cần tỉnh táo, đừng quá tin vào phương thuốc hay một phương thức điều trị nào đó chưa được chứng thực về mặt khoa học mà chối bỏ phương pháp điều trị theo y học chính thống. Nhiều bệnh được điều trị theo kinh điển vẫn hiệu quả miễn không có sự chậm trễ. Sự lựa chọn trị liệu không tỉnh táo có thể làm mất thời gian vàng quý báu và hậu quả là sự phương hại mạng sống.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Đuc (Đại học Y Dược TP.HCM)

 

Tin chân bài
Tin liên quan
Bình luận
TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Xem thêm