(SKDS) - Qua hơn 25 năm đi vào cuộc sống, tiêm chủng mở rộng (TCMR) đã và đang làm thay đổi rõ rệt mô hình bệnh tật ở Việt Nam. Nhờ tiêm chủng, tỷ lệ mắc bệnh, tử vong của nhiều bệnh truyền nhiễm có vắc-xin dự phòng đã giảm đi. Việt Nam đã thanh toán được bệnh bại liệt; loại trừ được uốn ván sơ sinh; giảm đáng kể tỷ lệ mắc các bệnh bạch hầu, ho gà; giảm tỷ lệ nhiễm virút viêm gan B ở trẻ dưới 5 tuổi, khống chế và tiến tới loại trừ bệnh sởi; mở rộng diện bao phủ các vắcxin viêm não Nhật Bản, tả và thương hàn. Đây là chương trình y tế quốc gia thành công nhất trong suốt những năm qua. Báo SK&ĐS xin giới thiệu với bạn đọc một số thành quả tiêu biểu của Chương trình TCMR.
![]() Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương PGS.TS. Nguyễn Trần Hiển đi kiểm tra và giám sát công tác tiêm chủng vắc-xin tại Đà Nẵng. |
Tiếp tục bảo vệ thành quả thanh toán bại liệt
Bệnh bại liệt là bệnh truyền nhiễm lây qua đường tiêu hóa, bệnh có thể để lại di chứng liệt suốt đời. Trong những năm 50 của thế kỷ trước, trên bản đồ các quốc gia có lưu hành bệnh bại liệt polio của Tổ chức Y tế Thế giới, Việt Nam là một trong những nước có số mắc cao. Giai đoạn 1990-1992, cả nước ghi nhận hơn 600 trẻ bị bại liệt, có tới 50 trẻ bị tử vong mỗi năm và hầu hết trẻ bị di chứng liệt suốt đời. Trước những hậu quả nghiêm trọng của bệnh bại liệt, Chương trình TCMR đã nỗ lực không ngừng hướng tới mục tiêu thanh toán bệnh bại liệt. Số trẻ mắc bệnh bại liệt liên tục giảm qua các năm, năm 1997, tỉnh Phú Yên ghi nhận ca bại liệt hoang dại cuối cùng, đến năm 2000, Việt Nam đã thanh toán được bệnh bại liệt.
Trong hơn 10 năm qua, Việt Nam vẫn tiếp tục bảo vệ được thành quả này. Tuy nhiên, hiện nay nguy cơ xâm nhập virút bại liệt hoang dại từ các nước vẫn còn đang lưu hành vào các nước đã thanh toán bại liệt rất cao. Chương trình TCMR đã chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch nhằm duy trì thành quả thanh toán bại liệt.
Hằng năm, trên 90% trẻ dưới 1 tuổi được uống đủ 3 liều vắc-xin bại liệt trong các buổi tiêm chủng thường xuyên tại các trạm y tế xã/phường.
![]() PGS.TS. Nguyễn Trần Hiển cho trẻ uống vắc-xin phòng bại liệt bổ sung tại Hà Giang. |
Nhằm tăng cường chất lượng giám sát bệnh bại liệt, hai phòng thí nghiệm chuẩn thức quốc gia giám sát virút bại liệt hoạt động có hiệu quả và liên tục đạt tiêu chuẩn kỹ thuật trong các đợt đánh giá hằng năm của Tổ chức Y tế Thế giới.
Công tác giám sát liệt mềm cấp nhằm phát hiện kịp thời và đánh giá nguyên nhân luôn được chú trọng. Trong 10 năm gần đây, Việt Nam đã liên tục đạt chỉ tiêu về giám sát liệt mềm cấp của Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương.
Căn cứ tình hình tiêm chủng, giám sát bệnh, vùng địa lý biên giới, tình hình lưu hành bệnh trên thế giới, hằng năm, Chương trình TCMR sẽ tổ chức chiến dịch uống vắc-xin bại liệt bổ sung. Năm 2011, chiến dịch uống vắc-xin bại liệt bổ sung cho trẻ dưới 5 tuổi tại các vùng nguy cơ cao đã được tổ chức thành công cho hơn 700.000 trẻ. Trong năm 2012, chiến dịch uống vắc-xin bại liệt bổ sung tại vùng nguy cơ cao được triển khai tại 79 huyện của 19 tỉnh/TP cho khoảng 1 triệu trẻ em dưới 5 tuổi góp phần bảo vệ vững chắc thành quả thanh toán bại liệt.
Bảo vệ thành quả thanh toán bại liệt là một mục tiêu quan trọng đòi hỏi sự nỗ lực bền bỉ của ngành y tế, các cán bộ làm công tác tiêm chủng mở rộng và sự quan tâm của lãnh đạo các cấp.
Duy trì thành quả loại trừ uốn ván sơ sinh
Bệnh uốn ván là bệnh nhiễm trùng nhiễm độc do vi khuẩn xâm nhập qua vết thương hở. Hiện nay, 1/3 các nước đang phát triển đã loại trừ được bệnh uốn ván sơ sinh. Năm 2005, Việt Nam đã loại trừ uốn ván sơ sinh và tiếp tục bảo vệ vững chắc thành quả quan trọng này. Các chiến lược duy trì thành quả uốn ván sơ sinh gồm có:
- Duy trì tỷ lệ tiêm vắc-xin uốn ván cho phụ nữ có thai đạt trên 80%.
- Thực hiện tiêm vắc-xin uốn ván cho nữ tuổi sinh đẻ tại một số vùng nguy cơ cao thường xuyên đạt trên 90%.
- Tỷ lệ trẻ được bảo vệ phòng uốn ván sơ sinh đạt cao: 88,7%.
- Triển khai giám sát tử vong sơ sinh và mắc UVSS chặt chẽ thường xuyên trên tất cả các tuyến.
- Tỷ lệ mắc UVSS của Việt Nam liên tục giảm từ năm 1991 đến nay, đi cùng với tỷ lệ tăng dần của mũi tiêm UV2 cho trẻ dưới 1 tuổi và tỷ lệ tiêm vắc-xin uốn ván cho phụ nữ có thai và nữ tuổi sinh đẻ (15-35 tuổi).
- Kể từ năm 2005 (năm công bố thành công loại trừ UVSS) đến năm 2011 tỷ lệ mắc UVSS thường xuyên đạt 0,04/100.000 dân và có 100% số huyện trên toàn quốc đạt chỉ tiêu loại trừ uốn ván sơ sinh của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương đề ra.
Mặc dù chúng ta đã duy trì được thành quả loại trừ bệnh uốn ván sơ sinh trong hơn 5 năm qua, song không ít yếu tố còn tác động tới việc bảo vệ thành quả như tỷ lệ sản phụ đẻ tại nhà khá cao; tình trạng đỡ đẻ và cắt rốn, chăm sóc rốn không vô trùng vẫn còn phổ biến ở những vùng miền núi, vùng xa, vùng khó khăn, vùng các dân tộc thiểu số. Tiêm vắc-xin uốn ván cho phụ nữ có thai luôn là biện pháp chủ động và hiệu quả trong phòng bệnh uốn ván sơ sinh. Tiêm vắc-xin uốn ván là an toàn. Phụ nữ có thai cần chủ động tới các trạm y tế xã/ phường để được tiêm chủng đủ mũi vắc-xin uốn ván.
Tiêm chủng vắc-xin uốn ván giúp phòng bệnh uốn ván cho mẹ và phòng bệnh uốn ván sơ sinh cho con.Bệnh sởi là bệnh truyền nhiễm lây nhanh qua đường hô hấp, ở trẻ em, bệnh gây suy giảm miễn dịch nên dễ biến chứng gây viêm phổi, tiêu chảy. Bệnh có thể phòng được bằng cách tiêm vắc-xin sởi.
Vắc-xin sởi là một trong những vắc-xin đầu tiên được triển khai trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam. Khoảng hơn 20 triệu trẻ em từ 9-11 tháng tuổi đã được tiêm 1 mũi vắc-xin sởi trong giai đoạn từ năm 1981 đến trước năm 2000. Chương trình Tiêm chủng mở rộng liên tục thực hiện các chiến dịch tiêm chủng bổ sung vắc-xin sởi cho trên 26 triệu lượt người, góp phần nâng cao tỷ lệ miễn dịch với bệnh sởi trong cộng đồng.
Công tác giám sát sởi cũng được tăng cường, hệ thống giám sát phòng thí nghiệm virut sởi tại 4 Viện Vệ sinh dịch tễ/ Pasteur đã đi vào hoạt động. Hai phòng thí nghiệm thuộc Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương và Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh đã được Tổ chức Y tế Thế giới công nhận là phòng thí nghiệm chuẩn thức quốc gia. Bên cạnh việc thực hiện xét nghiệm ELISA chẩn đoán bệnh sởi, hai phòng thí nghiệm này còn triển khai kỹ thuật phân tích gen góp phần nâng cao chất lượng giám sát phòng thí nghiệm bệnh sởi.
Các vụ dịch sởi đã được phát hiện, báo cáo và xử lý kịp thời. Tổ chức triển khai chiến dịch quy mô nhỏ, tiêm chủng bổ sung cho toàn bộ đối tượng có nguy cơ tại khu vực ổ dịch. Việc thực hiện chiến dịch tiêm bổ sung vắc-xin sởi đã góp phần quan trọng giảm số mắc sởi, không để xảy ra tử vong, khống chế thành công bệnh sởi.
Tỷ lệ mắc sởi của Việt Nam liên tục giảm từ năm 1984 đến nay. Năm 2011, tỷ lệ mắc sởi là 8,6 trên 100.000 dân giảm 117 lần so với năm 1984 tỷ lệ này là 1566,2 trên 100.000 dân. Từ năm 2003, không ghi nhận ca tử vong do sởi trên toàn quốc.
Với những nỗ lực trong công tác phòng chống sởi trong nhiều năm qua, chúng ta hy vọng Việt Nam đang tiến gần tới mục tiêu loại trừ bệnh sởi.
Tiêm đủ mũi vắc-xin sởi là cách tốt nhất để phòng bệnh sởi.
Tiêm vắc-xin sởi mũi 1 khi trẻ 9 tháng tuổi
Tiêm vắc-xin sởi mũi 2 khi trẻ 18 tháng tuổi
Dự án Tiêm chủng mở rộng Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương

