Những thách thức phải đối mặt

Tin nóng y tế
Để duy trì thành quả khống chế được tỷ lệ lây nhiễm HIV dưới 0,3% dân số tiến tới đẩy lùi HIV/AIDS, nước ta vẫn phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức.

 PGS.TS. Nguyễn Thanh Long.
Để duy trì thành quả khống chế được tỷ lệ lây nhiễm HIV dưới 0,3% dân số tiến tới đẩy lùi HIV/AIDS, nước ta vẫn phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức. Vậy những khó khăn mà chúng ta phải ứng phó trong thời gian tới là gì? Phóng viên báo Sức khỏe và Đời sống có cuộc trao đổi với PGS.TS. Nguyễn Thanh Long, Cục trưởng Cục phòng, chống HIV/AIDS, Bộ Y tế.

Phóng viên (PV): Có thể nói Việt Nam là một trong những nước có khung hành lang pháp lý khá đầy đủ trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS. Vậy, theo ông hệ thống pháp luật về HIV/AIDS này có tác động trực tiếp như thế nào trong việc đẩy lùi HIV/AIDS?

PGS.TS. Nguyễn Thanh Long: Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống pháp luật trong việc góp phần kiểm soát dịch HIV/AIDS, những năm qua, Việt Nam đã hết sức chú trọng công tác xây dựng, ban hành và phổ biến các văn bản pháp lý về HIV/AIDS. Một số văn bản quan trọng như: Chỉ thị 54-CT/TW ngày 30/11/2005 của Ban Bí thư về “Tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS trong tình hình mới”; Luật Phòng, chống HIV/AIDS và Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020... Có thể nói Việt Nam là một số ít nước trên thế giới đã có luật riêng điều chỉnh về vấn đề này và cho đến nay chúng ta đã có một khung hành lang pháp lý trong phòng, chống HIV/AIDS khá đầy đủ. Cũng chính nhờ có khung pháp lý này đã góp phần vào những thành công trong công cuộc kiểm soát HIV/AIDS của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua.

PV: Những thành công trong công cuộc phòng, chống HIV/AIDS của nước ta trong thời gian qua rất đáng ghi nhận. Ông có thể nói rõ hơn về những thành công này?

PGS.TS. Nguyễn Thanh Long: Phải nói rằng, thời gian qua, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả hết sức phấn khởi trong công cuộc phòng, chống HIV/AIDS. Một số thành tựu nổi bật như:

Hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông được triển khai mạnh mẽ, rộng rãi trên phạm vi toàn quốc với nhiều hình thức phong phú, đa dạng... đã thực sự nâng cao hiểu biết, nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng về phòng, chống HIV/AIDS. Không chỉ nghe nói, nhiều nghiên cứu, đánh giá về hành vi đã khẳng định nhiều người đã có kiến thức khá tốt về phòng, chống HIV/AIDS. Thái độ và thực hành của người dân về phòng, chống HIV được nâng lên.

Chương trình can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV (trao đổi bơm kim tiêm, phân phát bao cao su) được đẩy mạnh ở 60 tỉnh, thành phố trong cả nước... đã góp phần làm giảm số nhiễm mới HIV. Hơn nữa, chúng ta đã triển khai thử nghiệm thành công chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone đã giúp bệnh nhân giảm và dừng sử dụng ma túy, tỷ lệ sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục cũng tăng lên, đặc biệt qua theo dõi cho thấy trong nhóm người điều trị cai nghiện không có trường hợp mới nhiễm HIV, viêm gan B và viêm gan C nào được phát hiện trong thời gian 9 tháng nghiên cứu. Với kết quả này, chúng ta đang tiếp tục mở rộng chương trình này ra các tỉnh, thành phố khác trong cả nước.

Việc chăm sóc, hỗ trợ và điều trị người nhiễm HIV đã tập trung triển khai tại các cơ sở y tế tuyến tỉnh và tuyến huyện với các gói dịch vụ chăm sóc kết hợp giữa cơ sở y tế với dịch vụ chăm sóc dựa vào gia đình và cộng đồng, góp phần làm giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh, làm giảm tử vong cho bệnh nhân AIDS...

PV: Bên cạnh những thành công trên thì những thách thức mà ngành y tế phải ứng phó với HIV/AIDS thời gian tới còn rất lớn. Ông có thể nói rõ hơn về những thách thức này?

 Thu gom bơm kim tiêm.

PGS.TS. Nguyễn Thanh Long:

Những khó khăn, thách thức trong công cuộc phòng, chống HIV/AIDS mà chúng phải ứng phó trong thời gian tới, đó là:

Về môi trường chính sách và pháp lý: Một số địa phương vẫn chưa thực sự tạo điều kiện cho việc mở rộng các hoạt động can thiệp giảm tác hại phòng lây nhiễm HIV như: chương trình trao đổi bơm kim tiêm và chương trình sử dụng bao cao su...

20 năm sau ngày phát hiện có người nhiễm HIV, Việt Nam vẫn tiếp tục phải đối mặt với sự kỳ thị và phân biệt đối xử. Vẫn còn tình trạng trẻ em không được nhận vào học và một số người bị gia đình và cộng đồng chối bỏ sau khi họ công khai tình trạng nhiễm HIV. Sự thiếu hiểu biết về bệnh tật, các định kiến liên quan đến các hành vi (tiêm chích ma túy, mại dâm - những hành vi này vốn không được xã hội chấp nhận) và sự thiếu hiểu biết về quyền của những người nhiễm HIV là những nguyên nhân chính gây ra các hành vi kỳ thị và phân biệt đối xử nói trên.

Trong khi đã có nhiều tiến bộ trong việc mở rộng các dịch vụ dự phòng HIV, song vẫn cần duy trì các nỗ lực này để đảm bảo độ bao phủ đầy đủ các dịch vụ cho các nhóm đối tượng có nguy cơ cao. Việc dự phòng lây truyền HIV qua đường tình dục trong nhóm nam tình dục đồng giới, dự phòng lây lan sang những bạn tình chính của những người nhiễm HIV, những người tiêm chích ma túy và những phụ nữ tiêm chích ma túy vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về độ bao phủ của chương trình để đảm bảo hiệu quả dự phòng lây nhiễm HIV. Ngoài ra, việc tiếp cận được các dịch vụ dự phòng, chăm sóc và điều trị ARV tại các trại giam, trại tạm giam, trung tâm giáo dục lao động xã hội vẫn còn hạn chế.

Hiện nguồn nhân lực cho công tác phòng, chống HIV/AIDS còn hạn chế về cả số lượng và chất lượng. Sự hạn chế này đã gây trở ngại cho việc nhân rộng các mô hình, kinh nghiệm tốt ở cả cấp tỉnh và huyện.

Việc không ngừng mở rộng các hoạt động dự phòng và điều trị trong 2 năm qua có được là nhờ phần lớn sự hỗ trợ từ các nhà tài trợ quốc tế. Khi Việt Nam đang tiến đến vị trí của nước có thu nhập trung bình, sự ủng hộ về tài chính từ bên ngoài sẽ giảm đi. Việc duy trì nguồn lực trong nước cho các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS, đặc biệt là công tác điều trị ARV và điều trị methadone là một thách thức lớn cần được quan tâm sớm và có giải pháp phù hợp.

PV: Xin cảm ơn ông!

            Xuân Thủy(thực hiện)


Ý kiến của bạn