Từ Hippocrates, Florence Nightingale, Joseph Murray cho đến Alexander Fleming hay Edward Jenner... Họ là những bác sĩ, y tá, nhà nghiên cứu tài ba lỗi lạc, đóng góp của họ có ảnh hưởng lớn, thúc đẩy nền y học thế giới nói chung và y học phương Tây phát triển, trong số này có 5 gương mặt tiêu biểu dưới đây vừa được tạp chí Listverse của Mỹ cập nhật.
Hippocrates (460 - 370 trước Công nguyên)
Hippocrates là bác sĩ Ai Cập cổ đại, ông được mệnh danh là cha đẻ của thuốc Tây, đặc biệt là những phát minh “đi trước thời đại”, trong đó có quan điểm cho rằng bệnh tật không phải do Chúa gây ra mà do những nguyên nhân thực thể đích thực như lối sống, ăn uống và môi trường. Đến nay đã trên 2.000 năm trôi qua nhưng quan điểm của Hippocrates vẫn còn nguyên giá trị. Quan trọng hơn, nó được đưa ra trong bối cảnh kiến thức của con người còn sơ khai. Ngoài việc chữa bệnh, Hippocrates còn dạy kiến thức y học cho mọi người để họ tiếp tục đi chữa bệnh cho những người khác. Ông nổi tiếng với bộ tài liệu y học mang tên Hippocrates Corpus gồm trên 70 tài liệu mô tả chi tiết triệu chứng, tiến trển của các ca bệnh khác nhau, đến nay đã qua 2 thiên niên kỷ nhưng các tài liệu này vẫn được sử dụng giảng dạy trong các trường đại học, cơ sở y tế hay trong nghiên cứu khoa học.
Florence Nightingale (1820 - 1910)
Florence Nightingale là một nữ y tá nổi tiếng nhất trong lịch sử nhân loại xưa và nay, được mệnh danh là The Lady With the Lamp (Quý bà với cây đèn). Bà sinh ra trong một gia đình thượng lưu ở Anh nên được học hành khá đầy đủ. Sau khi ra trường, Nightingale đã tình nguyện tham gia trận Crimeam ở Đông Âu năm 1854 để chữa trị bệnh cho binh lính, bởi thời gian này, bệnh tả và thương hàn phát triển rất nhanh, binh lính khi mắc các loại bệnh này có mức tử vong cao gấp 7 lần so với tử vong vì súng đạn hay thương tật, nguyên nhân do người ta không hiểu hết vai trò của công tác vệ sinh. Bà đã trực tiếp tuyên truyền để binh lính, mọi người hiểu được tầm quan trọng của công tác vệ sinh, trực tiếp làm nhiều việc để cải thiện điều kiện vệ sinh nơi lán trại và trong các bệnh viện dã chiến. Nhờ công lao của bà nên tỷ lệ bệnh tật giảm hẳn, đặc biệt, Nightingale còn yêu cầu chính phủ Anh tăng cường nhân viên đến viện trợ công tác vệ sinh nên cuối cùng tỷ lệ tử vong của binh sĩ giảm tới mức đáng ngờ. Năm 1860, bà đứng ra thành lập trường cao đẳng y tá ở Bệnh viện St Thomas và từ đây vai trò của nữ y tá được đề cao. Nightingale là người trực tiếp soạn ra nhiều bộ giáo trình quan trọng để giảng dạy, đào tạo y tá. Cũng từ đây, nghề y tá được tôn vinh, nhiều người thành danh bằng nghề này, kể cả những phụ nữ xuất thân từ tầng lớp danh giá. Ngoài việc tôn vinh công trạng của bà, Ngày y tá thế giới (IND) - ngày 12/5 hàng năm đã được lấy theo ngày sinh của bà.
![]() Joseph Lister đang chỉ đạo sử dụng phun axit carbonic, chất khử trùng đầu tiên để dùng trong phẫu thuật năm 1865. |
Archibald McIndoe (1900-1960)
Ông là bác sĩ phẫu thuật người New Zealand nhưng lại làm việc cho Không quân Hoàng gia Anh (RAF) với tư cách là bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ từ năm 1938. Trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ II, ông bắt đầu điều trị cho các binh lính bị thương, bị bỏng nặng, tham gia các ca phẫu thuật chỉnh hình, ông đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm và trở thành một trong 4 bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình nổi tiếng nhất của Anh hồi đó. Phương pháp cổ truyền thường áp dụng lúc bấy giờ là dùng axít để khử da bị tổn thương và chờ tiếp 2 tháng sau mới có phẫu thuật được, điều này dài quá sức tưởng tượng của con người, chưa kể sẹo khó khắc phục. Để khắc phục tình trạng trên, Archibald McIndoe đã phát minh ra phương pháp phẫu thuật tức thì, có thể giúp vết thương lành nhanh và nhiều ưu điểm khác, có lợi cho cả bệnh nhân lẫn cho người phẫu thuật. Ngoài ra, ông còn tìm ra các kỹ thuật trồng da để vá vết bỏng vừa nhanh lại hạn chế việc nhiễm trùng. Ngoài phẫu thuật, ông còn nổi tiếng là người ứng dụng thành công phương án phục hồi tâm thần (Psychologial Rehabilitalion) cho các thương binh sau phẫu thuật.
Sigmund Freud (1856 - 1931)
Sigmund Freud là nhà thần kinh, tâm thần học người Áo. Phần lớn các bệnh nhân của Sigmund Freud là phụ nữ. Họ mắc những căn bệnh thần kinh chứa đựng nhiều bí ẩn mà ngay cả y học hiện đại cũng chưa tường hết nên vào những năm cuối thế kỷ 19 đầu 20 gặp không ít khó khăn trong chẩn đoán và chữa trị. Đây là căn bệnh ngày nay người ta gọi là hysteria, phương pháp điều trị phổ biến là dùng thiết bị gây rung bằng điện nhằm gây khoái cảm, thậm chí người ta còn dùng cả những biện pháp “hoang dã” hay độc hại như dùng đỉa, dùng arsen hoặc phẫu thuật gây tổn thương bộ phận sinh dục của người bệnh. Nhận thấy các phương pháp điều trị này chưa phù hợp hoặc phản tác dụng, Sigmund Freud đã đưa ra phương pháp điều trị dựa trên những nguyên nhân tâm thần, không dựa trên những nguyên nhân thể chất, phát minh ra phương pháp mà hồi đó ít người hiểu có tên là “Talking Cure”, tạm hiểu là liệu pháp tâm giao, đặc biệt ông rất quan tâm đến kỹ thuật phân tích tâm thần. Phương pháp này chú trọng đến việc khám phá các triệu chứng và trí nhớ để nhận biết mức độ trí nhớ bị ảnh hưởng. Sigmund Freud là một trong số những người đầu tiên nhận biết nguyên nhân gây bệnh hysteria về mặt khoa học là do trí nhớ bị tổn thương dẫn đến gây bệnh. Ông còn là người nổi tiếng với những học thuyết về sex (tình dục), quá trình này phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau trong cuộc đời con người. Theo ông, quan điểm về sex ở phụ nữ có chứa đựng rất nhiều bí ẩn cần được nghiên cứu kỹ lưỡng mới có thể khắc phục được căn bệnh này, nó là bệnh chứ không phải tật xấu, trong đó có căn bệnh rối loạn hysteria mà ngay trong y học hiện đại vẫn chưa hiểu hết.
Joseph Lister (1827-1912)
Joseph Lister là nhà khoa học đầu tiên phát hiện thấy những người sau khi phẫu thuật thành công nhưng sau đó lại tử vong là do bị nhiễm trùng, con số tử vong sau phẫu thuật hồi đó rất cao. Để tìm ra thủ phạm, Lister đã tiến hành nhiều nghiên cứu và phát hiện thấy thủ phạm gây nhiễm độc vết thương, gây truyền bệnh một phần do chính các bác sĩ phẫu thuật tạo ra, mang từ người này sang người khác, vì vậy phương pháp vô trùng, vệ sinh được xem là giải pháp quan trọng. Ông cũng là người đầu tiên đưa ra đề xuất sử dụng axit carbonic làm chất khử trùng và khuyến cáo các đồng nghiệp của mình nên rửa tay bằng dịch khử trùng này hoặc đeo găng tay trước khi phẫu thuật. Ngoài ra, Joseph Lister còn sử dụng các thiết bị phẫu thuật, dịch phun riêng để khử trùng và dùng các loại dịch chuyên dụng để rửa sạch vết thương, nhờ vậy, tỷ lệ tử vong vì nhiễm trùng giảm đi đáng kể.
KHẮC NAM (Theo LS, 8/2011)
