Những người thầy không bao giờ quên

Tin nóng y tế
SKĐS - Những dòng tâm sự này, tôi không thể kể hết được tất cả các thầy đã giúp tôi trở thành một giáo sư - tiến sĩ khoa học, một bác sĩ phẫu thuật suốt đời vì sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân đã được đón nhận không dưới một vạn nụ cười trở về từ cõi chết, không hề màng danh lợi. Dưới đây là hình ảnh về 4 người thầy của tôi.

Trước tiên tôi phải kể về thầy Tôn Thất Tùng. Năm 1960, tôi đã hoàn thành xuất sắc chương trình học về phẫu thuật tim mạch và đã bảo vệ thành công bản luận văn tốt nghiệp đại học với đề tài “Chẩn đoán và chỉ định phẫu thuật bệnh hẹp van hai lá  tim hậu thấp” do thầy B.V.Pêtrôvski hướng dẫn.

Tháng 9/1960, thầy Tôn Thất Tùng nhận tôi về làm việc tại BV. Hữu nghị Việt - Đức Hà Nội. Thầy Tùng giao cho các học trò của thầy cùng với tôi xây dựng và thành lập khoa phẫu thuật tim mạch, trong số đó có các bác sĩ: Nguyễn Dương Quang, Nguyễn Xuân Ty, Tôn Đức Lang, Nguyễn Thụ và một số bác sĩ của Trường Đại học Y Hà Nội đang công tác ở BV. Hữu nghị Việt - Đức: Đặng Hanh Đệ, Phạm Hoàng Phiệt… Riêng tôi được cử xuống BV. Bạch Mai mỗi tuần lễ một ngày để hội chẩn với tổ tim mạch BV. Bạch Mai do GS. Đặng Văn Chung chủ trì để chọn và nhận bệnh nhân về BV. Hữu nghị Việt - Đức điều trị phẫu thuật.

Thời gian đầu chỉ mổ tim kín (nong lỗ hẹp van hai lá, thắt ống botal, viêm màng ngoài tim, vết thủng tim, vết thương mạch máu, di chứng vết thương mạch máu… Từ 19/5/1965 bắt đầu mổ tim hở có sử dụng máy tim phổi nhân tạo.

Thầy thứ hai là thầy B.V. Pêtrôvski. Thầy B.V. Pêtrôvski đã hết sức tận tình giúp tôi học tập, hoàn thành kế hoạch học tập về phẫu thuật tim mạch do thầy đề ra.

Thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành hai bản luận án phó tiến sĩ và tiến sĩ.

Thầy Pêtrôvski đã gửi tặng tôi hai bộ dụng cụ mổ tim, tôi và đồng nghiệp, học trò của tôi đã sử dụng quà tặng của thầy để cứu sống trên 2.000 bệnh nhân mắc bệnh tim nặng.

Thầy thứ ba là thầy N.N.Elanxki, phẫu thuật viên trưởng của hồng quân Liên Xô.

Theo dõi cuộc chiến tranh anh dũng của nhân dân ta chống giặc ngoại xâm, phù hợp với chủ trương của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch - Bộ trưởng Bộ Y tế: “Thầy tại chỗ, thuốc tại chỗ, ngoại khoa hóa toàn ngành”, khi đó thầy đã gợi ý tôi dịch cuốn sách của thầy “Các bệnh ngoại khoa” từ tiếng Nga sang tiếng Việt Nam dày trên 1.000 trang còn là bản thảo chưa in thành sách. Tôi đã hoàn thành nhanh chóng công việc này và 3 tập sách dịch này đã được nhà xuất bản Y học Việt Nam tại Hà Nội in, phát hành giúp cho các bác sĩ trẻ cứu sống hàng vạn bệnh nhân và thân nhân chiến tranh tại chỗ, trong hoàn cảnh giao thông khó khăn thời chiến không thể chuyển ngay bệnh nhân đến tuyến trên.

Thầy đã dạy cho tôi những phương pháp gây tê vùng để mổ các cơ quan trong lồng ngực ở những nơi vùng sâu vùng xa, không có điều kiện gây mê nội khí quản.

Thầy thứ 4 là thầy J.P.Trumcôv giáo sư - tiến sĩ - Giám đốc BV. Thực hành của trường Đại học Y khoa thứ nhất Matxcơva.

Thầy đã cầm tay chỉ việc cho tôi từ năm thứ ba, mỗi năm 3 tháng hè, mổ các bệnh thuận ngoại khoa tổng quát như: mổ dạ dày, gan, thận, đại tràng, tử cung... Đặc biệt là mổ điều trị bệnh lao xương khớp.

Khi tôi trở về nước công tác, thầy vẫn thường xuyên liên lạc với tôi, theo dõi công việc tôi làm, gửi tặng tôi xe đạp, lương khô, dụng cụ phẫu thuật vì thầy luôn nghĩ rằng trong chiến tranh tôi còn rất nghèo, nhiều thiếu thốn, khó khăn.

Những người thầy kính yêu của tôi luôn là tấm gương để tôi noi theo. Tuy tuổi đã 85, nhớ  về các thầy, tôi vẫn bồi hồi xúc động như ngày nào mình còn là sinh viên y khoa, bác sĩ mới vào nghề.


GS.TSKH.BS. NGUYỄN KHÁNH DƯ
Ý kiến của bạn