(SKDS) - Thật trời xui đất khiến, không hiểu sao tôi lại ôm một đống dự định trong đầu khi lên Tam Đảo vào thời điểm lạnh lẽo này. Tôi lần mò trong màn sương dày đặc hướng theo tiếng nói cười trên con đường nhỏ dẫn xuống chợ của thị trấn. Ở dưới chợ, sương mỏng hơn và dần tan trên dòng suối chảy từ trên núi, đây đó tôi nghe thấy những tiếng cười giòn tan của các cô gái bán hoa quả và thấy lòng ấm áp hẳn. Tôi cứ lang thang trong sương và thật bất ngờ khi lấy tay vuốt những hạt nước lành lạnh trên mi mắt thì thấy mình đã đứng trước con đường dẫn xuống thác Bạc.
- Chắc ông xã nhà chị đã đi làm sớm?
- Không đâu ạ, chồng em bỏ nhà đi đã lâu rồi.
Thấy tôi tròn mắt, cô chủ nói thêm:
- Chúng em lấy nhau cũng đã có con, nhưng đột nhiên anh ấy xuống núi làm ăn, rồi từ đó chẳng về nữa.
Lúc này nắng đã vắt ngang mái lán làm tan làn sương còn ngái ngủ. Cô chủ vội vớ lấy cái quạt rồi phẩy lấy phẩy để những hòn than đỏ cháy rực lên như muốn xua tan đi nỗi buồn mà chính mình vừa khơi lại cho một người khách không quen biết như tôi. Tôi kéo ghế ngồi gần bếp hơn. Cô chủ im lặng khá lâu. Tôi cũng không dám hỏi gì nữa nên đành lảng sang chuyện rau cỏ, vì ở thị trấn Tam Đảo này gia đình nào cũng trồng rau su su để bán, không ngờ cô chủ thở dài nói:
- Từ ngày anh ấy đi cũng chẳng có ai làm, đất bỏ hoang, chán lắm bác ạ!
Tôi giật mình không ngờ câu chuyện lại quay về những điều chả hay ho ấy. Rồi cô chủ cúi xuống với vẻ mặt u ám, đôi mắt cay đỏ không hiểu có phải vì khói hay vì sương, hay vì nỗi buồn đột nhiên do tôi gợi lại. Tôi vội nói với cô chủ gói cho mấy củ khoai, lấy cớ mua về cho người nhà, rồi nhanh chân quay lên chứ không xuống thác nữa.
Lúc này trời đã sáng rõ, lác đác có người đi xuống thác, chỉ có tôi là đi lên. Không hiểu sao nỗi buồn của cô gái ấy lại theo tôi và phảng phất, lãng đãng trong những làn sương còn sót trên vai tôi. Một nỗi buồn lạnh ngắt. Đó là người đàn bà đầu tiên tôi muốn kể lại trong chuyến đi này.
Thế rồi hôm sau tôi gặp người đàn bà thứ hai. Cũng thật tình cờ, cũng trong những làn sương dày đặc, nhưng lại ở trên đỉnh núi. Nói cho đúng ra là ở gần chân tháp truyền hình, khi tôi là người duy nhất lúc đó hăng hái leo hết 1.650 bậc đá thì bất ngờ gặp cô ta. Đang lúc mệt tưởng như đứt hơi, tôi dừng lại ở một chiếu nghỉ để lấy sức leo nốt những bậc đá cuối cùng, khi ngước lên thì bất chợt nhìn thấy một người đàn bà mặc áo phông vàng, với bộ ngực nở nang, đang ngồi trên một bậc đá nhìn xuống. Tôi bỗng thấy hết mệt và nhanh chân leo lên. Thì ra ở ngay trước cổng vào tháp truyền hình có một quán nước, mà chính người đàn bà này đứng bán. Tôi bước vào lán rồi vớ ngay một lon nước yến để uống một hơi liền, cho đỡ khát sau một chặng đường leo toát mồ hôi. Nguời đàn bà ấy hỏi tôi:
- Chắc bác nghỉ ở nhà văn hóa?
Thấy lạ, tôi hỏi vì sao cô ta biết thì cô ta nói ngay vào những ngày tháng trong thời gian tháng ba chỉ có người ở nhà nghỉ văn hóa lên thôi. Cô ta còn nhấn mạnh:
- Mấy lại nhìn các bác là chúng cháu nhận ra ngay. Bác nào cũng vậy, không thật chỉnh tề thì lại nom có vẻ bụi bặm với những chiếc áo gilê đầy những túi là túi. Văn nghệ sĩ mà, cháu còn lạ...
Vừa nói cô ta vừa cười tỏ ra rất vui khi gặp tôi là vị khách đầu tiên trong ngày leo lên tháp để ngắm cảnh. Thấy có chiếc võng dù vắt ngang hai cột lán, thế là tôi ngồi vào, đung đưa một hồi rồi hỏi:
- Vậy là cô bán hàng cả ngày ở trên này và ngủ luôn ở đây?
- Không! Rồi cô ta nói rằng - Đến tối phải về nhà ở dưới thị trấn chứ.
- Vậy ngày nào cũng phải leo lên thế này chồng con cũng chả có điều kiện lên để giúp việc.
Không ngờ cô ta buột miệng nói có vẻ khó chịu:
- Làm gì có ai!
- Vậy... thế sao?
- Cháu ở một mình!
Tôi lặng người đi vì cảm giác hơi ngượng ngập khi hỏi vớ vẩn làm đụng chạm tới một việc chẳng vui tí nào đối với một người đàn bà. Nói rồi đôi mắt sáng long lanh của cô ta nhìn về phía xa. Lúc này tôi mới có dịp nhìn kỹ vào khuôn mặt khắc khổ ấy. Gò má hơi cao với vầng trán có những nếp nhăn, nom thoáng qua tưởng đã già nhưng đôi mắt lại sáng và trong làm cho cô ta trẻ hẳn. Ngẫm mình thật vô duyên khi vô tình gợi lại những chuyện chẳng đâu vào đâu của người khác. Nhưng thật lạ cô ta bất ngờ nhìn thẳng vào mắt tôi rồi nói:
- Thật ra cháu cũng đã có người để nương tựa, nhưng người ấy bị tai nạn rồi chết. Từ đó cháu cứ ở vậy và nhận một con nuôi. Năm nay nó đã học lớp sáu, nhưng phải gửi về quê ngoại, vì ở trên này cháu không có điều kiện bác ạ.
- Vậy à...
Tôi chỉ biết nói câu vậy à, tỏ ý thông cảm một thân phận lẻ loi trên đỉnh núi này. Bất chợt tôi lại nhớ đến cô chủ quán ở dưới suối Bạc bị chồng bỏ rơi. Và tôi nghĩ biết đâu cái lý nói là người yêu bị tai nạn cũng chỉ là cái cớ để lấp đi một nỗi buồn cay đắng nào đó mà cô chủ quán này không muốn kể ra. Bởi cái duyên cớ để một cô gái phải ở vậy khi còn trẻ quả không đơn giản chút nào. Đột nhiên cô ta đứng dậy quét dọn mặc dù quán hàng vẫn sạch sẽ, rồi nói:
- Không hiểu sao cháu lại nói chuyện này với bác...
Rồi cô ta cúi xuống và giục tôi lên tháp truyền hình. Tôi sững người khi nhìn thấy những giọt nước mắt của cô ta rơi xuống đất. Tôi im lặng rời khỏi chiếc võng dù và cũng chẳng còn tâm trạng nào để mà lên tận tháp nhìn xuống thị trấn nữa. Tôi chậm chạp đi xuống và đếm từng bậc một với tâm trạng xáo trộn. Một vạt mây như níu chặt lấy chân tôi. Lại một ngày xúi quẩy.
Và thế rồi thật vô tình tôi lại gặp một người đàn bà thứ tư bị chồng bỏ rơi trên đỉnh núi Tam Đảo này. Hôm ấy vẫn chưa đến ngày cuối tuần nên ít khách lên chơi, còn tôi lại dạo chợ sớm định mua ít hoa quả tươi và một giò lan hồ điệp màu tím. Câu chuyện không ngờ bắt đầu từ giò lan này, khi tôi ngồi vào một hàng nước cùng với một bạn làm thơ cũng ở nhà sáng tác. Bà chủ quán khen giò lan đẹp rồi nói:
- Chắc bác là người chung tình lắm đây. Chọn hoa màu tím là phải biết.
- Ôi dào già rồi, bà ấy có thả cho đi cũng chả ai thèm “chăn dắt”.
Ông bạn đi cùng lại nói đế thêm, rằng mình đi bộ đội trọn cả tuổi xuân, nay đã về, phải sống sao cho trọn đạo với vợ chứ. Tôi ngẫm ông bạn nói nghe tưởng khách sáo, nhưng quả sự thật là như vậy. Cánh bạn già này đã ngoài sáu mươi cả rồi chả biết nói dối. Nhưng đột nhiên bà chủ quán lấy vạt áo thấm nước mắt. Tôi và người bạn chưa hiểu ra sao thì bà ta nói:
- Nghe các bác nói mà em tủi thân quá. Em đã phải sống một mình nuôi ba con ăn học hơn chục năm nay.
Cảm thấy bức xúc, ông bạn tôi hỏi:
- Chắc chồng cô bỏ đi với gái trẻ chứ gì?
Tôi bỗng thấy ngượng vì câu hỏi sỗ sàng của người bạn, nhưng không ngờ bà chủ quán khẳng định:
- Đúng! Lão ấy bỏ mặc bốn mẹ con em xuống núi lâu rồi. Nghe nói ở dưới ấy cũng đã có con thêm con nếm rồi. Về làm sao được nữa...
Tôi lặng người đi vì không ngờ chuyện xảy ra lại xót xa đến thế. Lát sau bà ta còn khoe thêm rằng mấy đứa con của bà đều trưởng thành, có hai đứa đã vào đại học. Nhưng tất cả đều không ở nhà và bây giờ một mình lo toan mọi việc từ trồng rau su su đến bán hàng ở chợ. Bà nghĩ cố làm mọi việc để lấp đi khoảng trống vắng trong lòng. Nhưng rồi bóng tối hằng đêm lại phủ lên tâm hồn một bầu trời cô đơn. Và tôi nghe như có tiếng thở dài trong lòng bà. Ông bạn tôi đứng bật dậy, chào bà rồi đi ra ngoài vì sợ sẽ buột miệng nói một câu gì đó không vui. Tôi thì vẫn ngồi lặng để ngắm nhìn giò lan màu tím và trong lòng trĩu nặng nỗi buồn. Khi sương đã tan tôi càng nhìn rõ ngấn nước mắt của người đàn bà không kịp lau đi...
Hạnh An