Những dấu ấn không thể phai mờ...

Thời sự
Như một ánh sao băng rực rỡ bay qua bầu trời rồi sớm tắt, trong thời gian ngắn ngủi lãnh đạo Viện chống lao, BS. Phạm Ngọc Thạch đã để lại những dấu ấn không thể phai mờ về người thầy thuốc chuyên khoa lao và bệnh phổi đầu tiên của Việt Nam.

Như một ánh sao băng rực rỡ bay qua bầu trời rồi sớm tắt, trong thời gian ngắn ngủi lãnh đạo Viện chống lao, BS. Phạm Ngọc Thạch đã để lại những dấu ấn không thể phai mờ về người thầy thuốc chuyên khoa lao và bệnh phổi đầu tiên của Việt Nam.

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là một trong những thầy thuốc chuyên khoa lao và bệnh phổi đầu tiên ở Việt Nam, có phòng khám bệnh tư tại Sài Gòn từ những năm 1936 – 1937. Tham gia cách mạng rất sớm, BS. Thạch là thủ lĩnh thanh niên tiền phong Nam bộ từ thời tiền khởi nghĩa và trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, đã nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng của Trung ương Đảng và Chính phủ. Trong thời kỳ xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, BS. Thạch đã nhiều năm là Bộ trưởng Bộ Y tế và đồng thời cũng là Viện trưởng đầu tiên của Viện chống lao (VCL) tức Viện Lao và bệnh phổi sau này, Bệnh viện Lao và bệnh phổi Trung ương (BVLBPTW) sau này. Thời gian làm viện trưởng của BS. Phạm Ngọc Thạch không nhiều, chỉ hơn 10 năm (1957 – 1968), nhưng công lao, thành tích ông để lại thực là to lớn.

Ông đã kiên trì bỏ ra rất nhiều công sức cùng các cộng sự xây dựng chuyên khoa lao – bệnh phổi từ những bước đi đầu tiên. Ông đã chỉ đạo và cùng các địa phương tổ chức một hệ thống mạng lưới chống lao rộng lớn khắp miền Bắc thời bấy giờ, từ con số không, ngay cả trong những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất. Ông là người anh cả, người thầy, người đã hầu như trực tiếp đào tạo hầu hết các cán bộ chuyên khoa lao Việt Nam, nhưng người đã đóng vai trò chủ chốt của phong trào chống lao những năm 1959 – 1980 và cả thời kỳ sau đó.

 Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch dự lễ khánh thành BV Việt - Tiệp Hải Phòng (năm 1959). Ảnh: TL
Ông là người đầu tiên đề xuất trực tiếp chỉ đạo công tác điều tra tình hình dịch tễ bệnh lao ở Việt Nam, ngay từ năm 1957, vì như ông nói, có biết rõ địch mới đánh được địch. Hoạt động này cho đến nay vẫn được thường xuyên duy trì, kể cả trong những năm chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ và những số liệu ban đầu do ông để lại vẫn là những cơ sở chủ yếu đề đánh giá, nhận định diễn biến tình hình dịch bệnh lao của Việt Nam ngày nay.

Ông là người trực tiếp chỉ đạo nghiên cứu thành công và đề xuất việc phòng lao bằng BCG chết ở Việt Nam. BCG chết chưa phải là một loại vaccin hoàn hảo, nhưng trong hoàn cảnh thời gian đó (ta chưa có chương trình tiêm chủng quy mô, chưa có dây chuyền lạnh, mạng lưới y tế cơ sở còn mỏng...) thì thành tựu này là một biện pháp vô cùng quý báu và hiệu nghiệm, đã giúp cho hàng triệu trẻ em Việt Nam tránh được nguy cơ mắc bệnh lao. Nữ văn sĩ Madeleine Riffaud, đã viết trong bài điếu trên một tờ báo Pháp khi nghe tin ông từ trần: BS. Phạm Ngọc Thạch sẽ sống mãi trong cuộc đời của hàng triệu trẻ em đã nhờ ông mà thoát khỏi căn bệnh hiểm nghèo.

Ông đã cùng các cộng sự nghiên cứu thành công và sử dụng rộng rãi phương pháp điều trị bệnh lao độc đáo bằng kích sinh chất philatốp tiêm vùng huyệt phổi kết hợp với INH, cũng như chữa các bệnh nhiễm khuẩn phổi bằng vi khuẩn subtilis. Trong hoàn cảnh ngân sách cho y tế thời gian đó còn vô cùng eo hẹp thì những phương pháp đầy sáng tạo, rẻ tiền và hiệu quả đó đã đem lại cuộc sống và hạnh phúc cho hàng chục vạn bệnh nhân và gia đình trong những năm còn gian khó của đất nước.

Những kết quả các công trình nghiên cứu nói trên về BCG, philatốp, subtilis của ông, đăng trên tạp chí Y học Pháp có uy tín, đã có tiếng vang rất rộng rãi. Hàng trăm nhà khoa học ở nhiều nước trên thế giới đã gửi thư đến ông xin tài liệu, nhiều bức thư còn đang được lưu giữ tại phòng truyền thống của BVLBPTW.

Là một nhà khoa học có tư duy rất thực tiễn, ngay từ năm 1958, tại Hội nghị Chống lao quốc tế ở Ấn Độ, ông đã đề xuất việc phát hiện bệnh nhân lao tại các nước đang phát triển bằng kỹ thuật xét nghiệm đờm, vừa đơn giản lại vừa tìm ra được chính nguồn lây nguy hiểm nhất. Quan điểm đó dần được nhiều nước hưởng ứng và cho đến nay thì đã trở nên nguyên tắc chỉ đạo trong phát hiện và theo dõi điều trị bệnh nhân của mục tiêu thanh toán bệnh lao toàn cầu.

Để khắc phục tình trạng mỏng và yếu của hệ thống y tế cơ sở mới được xây dựng sau chiến tranh ở miền Bắc, với một quan điểm sáng tạo về y tế cộng đồng, ông đã chủ trương tổ chức những tổ bệnh nhân, những “xana” lao xã, huy động sự tham gia của các đoàn thể, các tổ chức xã hội trong việc theo dõi giúp đỡ phát hiện và chữa chạy bệnh nhân lao, ngay từ những năm 1963 – 1964. Quan điểm này ngày nay đang được coi là hoàn toàn đúng đắn và chỉ mới cách đây hơn nửa tháng, tháng 10/2008, tại Paris đã có cuộc Hội nghị lớn, một do Tổ chức Y tế Thế giới, một do Hiệp hội chống lao và bệnh phổi Quốc tế tổ chức, nhằm trao đổi kinh nghiệm huy động cộng đồng hỗ trợ cho Chương trình chống lao tại các nước kinh tế đang phát triển.

Là một chuyên gia lớn về bệnh đường hô hấp, ông đã nói “chỉ có hiểu biết rõ về các bệnh phổi mới có thể chẩn đoán chính xác được bệnh lao” và đã cùng các cộng sự bỏ ra nhiều công sức tìm hiểu về các bệnh phổi phổ biến ở Việt Nam. Cả một chương bệnh học phổi phong phú đã được mở ra trong thời gian ông lãnh đạo viện chống lao: viêm phế quản mạn, ung thư, áp-xe phổi, giãn phế quản khô chảy máu, ho gà, hen phế quản, sán lá phổi, them nhiễm phổi mau bay... Hội nghị khoa học đầu tiên ở Việt Nam về bệnh bụi phổi silic đã được tổ chức tại Viện chống lao từ năm 1964.

Ngay từ khi thành lập Viện chống lao, ông đã tiên đoán về tương lai: viện sẽ phải trở thành “Viện chống lao và các bệnh phổi” rồi sau đó sẽ là “Viện chống các bệnh phổi”. Năm 1985, gần 30 năm sau đó, Bộ Y tế đã đổi tên Viện chống lao thành “Viện lao và bệnh phổi”. Ngày nay, hơn 50% số bệnh nhân vào điều trị tại Bệnh viện lao và bệnh phổi Trung ương, tên mới của Viện, là những người mắc các bệnh phổi không phải lao. Việc đổi tên viện lần thứ hai như ý nghĩ ban đầu của ông chắc chắn không phải chỉ là ảo tưởng.

10 năm không phải là dài trong cuộc đời một con người và càng không đáng kể xét trên bình diện lịch sử, những thành quả, công lao ông để lại, cũng như nếp tư duy, óc sáng tạo, cách làm việc của ông vẫn là một tấm gương sáng, những bài học quý, mà các đồng nghiệp, học trò cũng như những người kế nhiệm ông luôn ghi nhớ, noi theo và phát triển.

GS.TS. Trần Đình Hường
(Nguyên Viện trưởng Viện chống lao)

Ý kiến của bạn