Những cung bậc Tết

Suckhoedoisong.vn - Nhỏ, nhỏ lắm, nhưng vẫn đủ để trí óc non nớt ngày ấy ghi lại đến giờ cái cảnh chờ Tết đến. Sơ tán trong một vùng núi Thanh Hóa, những dãy nhà tập thể ẩn dưới gốc những cây trám cổ thụ, những ngày giáp Tết lạnh quắt tai, run lập cập dưới những lần áo dày cộp. Chúng tôi là con cán bộ còn đỡ, chứ trẻ con vùng ấy, cứ phong phanh một manh áo, dong trâu bò vào khu tập thể chúng tôi ở thả rồi lân la chơi với chúng tôi.

Giáp Tết nhà máy bao giờ cũng thịt lợn. Các chú tiếp phẩm đi nhận phiếu dưới cửa hàng thực phẩm huyện, rồi mang phiếu ấy về xã bắt lợn. Nhà máy cử thêm mấy chú công nhân cùng phụ. Thế là eng éc ầm ĩ, lũ trẻ con cứ đứng năn nỉ để xin... bong bóng. Có biết đâu cái bong bóng ấy cũng là thực phẩm, người lớn cho chúng tôi là họ cũng đã phải bớt khẩu phần của mình. Sở dĩ tôi biết thế vì có lần một chú cương quyết không cho chúng tôi mà rửa sạch rồi cho vào nồi nước xuýt đang luộc. Chúng tôi mang bong bóng về, rửa sạch căng ra phơi rồi thổi lên làm bóng, đá tứ tung.

Nhà nào cũng quây lấy một mảnh vườn con con trồng rau và cái chuồng cũng be bé để nuôi gà dù tôi nhớ vùng ấy rất nhiều con lon - tiếng địa phương - tôi đồ chừng đấy là chồn cáo gì đấy, bắt gà rất tài. 2 cân thịt nhà máy chia, vài con gà, chục củ su hào, mấy cái bắp cải... thế là hân hoan Tết.

Phải đúng sáng mùng một thì chúng tôi mới được mặc quần áo mới. Thường thì là cái quần xanh sĩ lâm bằng vải chéo (chả hiểu sao lại gọi cái màu xanh ấy là xanh sĩ lâm), một cái áo phin màu trứng sáo - những cái màu hợp với việc xà phòng khan hiếm và cả chiến tranh nữa. Giờ đi máy bay mới biết là, ở trên cao nhìn xuống thấy mọi thứ đều bé tí, là cái lúc đã giảm độ cao để máy bay lao xuống ấy, thế mà ngày xưa, cứ truyền tai nhau và thành nguyên tắc, không được mặc áo trắng, không đội nón trắng. Đến cái vành xe trắng lóa cũng phải bọc lại, đeo đồng hồ cũng phải lấy khăn mùi xoa quấn lại, để... máy bay Mỹ không thấy. Và nguyên tắc của mẹ tôi, bao giờ bộ quần áo Tết cũng dài rộng hơn khổ người lúc ấy, để... mặc được lâu, đến khi rách vẫn vừa, thậm chí chật mà chưa rách thì em trai mặc. Xúng xính, ai nghĩ ra cái từ ấy hay thật. Rộng thì mới xúng xính. Đi từ đầu đến cuối dãy tập thể, rồi là sang dãy khác, toàn nhà tranh tre nứa lá, mỗi gia đình được một gian, nhưng không được vào nhà ai. Điều này đã được người lớn huấn thị từ hôm bắt đầu chộn rộn Tết. Cái sự khoe bộ quần áo mới nó còn tiếp diễn đến hết Tết kia. Áo phải xăn tay, quần phải xăn ống, bỏ áo trong quần túm lại như con ếch, thế mà vênh vang, thế mà hãnh diện, cứ lang thang hết sân dãy này sang dãy khác. Tất nhiên con nhà khác cũng lang thang như thế, khoe mà. Thế nên hiểu được cảm giác đứa nào Tết mà không có quần áo mới nó tủi thân đến như thế nào? Tết trẻ con thời chúng tôi nó giản dị vậy. Thế mà năm nào cũng mong Tết, có cảm giác trẻ con thời ấy mong Tết hơn trẻ con bây giờ. Cũng có thể là tại đói quá, Tết thì được ăn no và ngon. Mặc đẹp thì đương nhiên. Lạnh thế nhưng đã mặc bộ quần áo Tết vào rồi thì cương quyết không mặc áo bông bên ngoài nữa. Thế mà nhiều nhà Tết không có nổi bộ quần áo mới cho con đâu. Hồi ấy phần đông là đẻ nhiều, có nhà năm sáu đứa con, mà phiếu vải cung cấp người lớn được 4 mét một năm, lấy đâu ra cho đủ. Nên tôi vẫn còn là loại sướng vì nhà chỉ có 2 anh em trai, Tết nào cũng có một bộ quần áo mới.

Tết hồi ấy còn cái thú nữa là đi xem... tát ao. Chúng tôi là dân sơ tán nên chỉ đứng trên bờ nhìn, còn trẻ con nông thôn thì ùm ũm lội dưới ao hôi cá. Các ao này là của hợp tác xã, được bảo vệ rất nghiêm ngặt, mỗi năm được tát một lần vào dịp giáp Tết, thường là 27 hoặc 28 âm lịch để chia cá cho dân ăn Tết. Tát ao là một ngày hội, bởi có cá, có ao, có người, có không khí, có cái rét căm căm xứ Bắc lẫn cái nồng nã náo nhiệt của hàng trăm con người dồn xuống cái ao chỉ còn lấp xấp nước và bùn và cá... có khi còn vui hơn Tết, bây giờ chả đâu còn không khí này nữa...

Quây quần bên nồi bánh chưng Tết.

Sau này lớn, về quê ở Huế thì lại hưởng một không khí Tết hoàn toàn khác.

Tết Huế gắn liền với... cúng. Mấy ngày Tết ngày nào cũng phải cúng. Làm gì thì làm, sáng mở mắt ra là đã phải làm đồ cúng, tất nhiên chỉ toàn phụ nữ làm. Nếu ngoài Bắc đàn ông con trai cũng có thể vào bếp thì ở Huế tuyệt đối không. Đàn ông chỉ dọn ban thờ và sắp cỗ. Trừ mùng một không nổi lửa, cúng chay, toàn các loại bánh, còn từ mùng hai trở đi thì cúng mặn. Nhà tôi ít người, mà cái sự ăn uống ngày Tết thì nó khảnh, vì lúc nào cũng có cảm giác no, nhưng bao giờ cũng phải thửa các mâm cỗ cúng tươm tất. Mà nào có phải một mâm. Phải ba bốn mâm, từ trên bàn thờ đến trước bàn thờ đến ngoài sân ngoài ngõ. Cúng xong thì làm gì mới làm, đi đâu mới đi. Nhà tôi ở quê, cách Huế gần bốn mươi cây nên các phong tục còn giữ rất là nghiêm ngặt. Đàn ông đàn bà đã trên 40 tuổi thì đi chúc Tết cứ phải áo dài khăn đóng. Đến nhà chúc Tết thì việc đầu tiên là... lạy bàn thờ. Là bởi phần lớn bà con họ hàng đến thăm nhau trong ba ngày Tết nên các cụ trên bàn thờ không là bác ông này thì cũng là cậu cô kia. Nhưng kể cả không họ hàng gì thì người ta vẫn thắp hương lạy ban thờ trước, như một mỹ tục...

Còn hàng xóm thì thường sau 23 tháng chạp, sau khi từng nhà cúng ông Công ông Táo, chọn một ngày nào đó, mỗi nhà trong ngụ (ngõ) cử một vài người làm vệ sinh ngõ. Đổ đất, chặt cây, quét tước và cuối cùng là cúng. Mỗi nhà góp một ít, cúng xong thì ngồi với nhau. Cả năm đầu tắt mặt tối, tiếng là sát nhau trong ngõ, có gì ới nhau qua hàng rào, nhưng ngồi với nhau ở một cái buổi chiều vừa thanh thản vừa bận rộn như thế này thì chỉ một năm một lần. Cũng khăn đóng áo dài, cũng kính trên nhường dưới, cũng thiêng liêng mà gần gụi... Có những gì xích mích trong năm thì bỏ qua, có gì hiểu lầm thì bày tỏ, rồi ly rượu cuối năm khiến mọi người thấy nhau như người một nhà, tan cuộc cúng ngụ thì thấy Tết như đã tràn ngập...

Người Tây Nguyên bản địa không ăn Tết như người Kinh. Họ có hệ thống lễ Tết riêng, có hẳn những tháng Ning Nơng, tức là cả tháng ấy chỉ ăn chơi, không làm gì cả. Lễ hội của họ phần lớn là dồn vào tháng này. Nó thường diễn ra vào cữ tháng ba tháng tư dương lịch. Nhưng bây giờ, họ cũng có thêm cái Tết Nguyên đán như người Kinh. Thứ nhất là do học người Kinh, ở cùng làng cùng xóm cùng khu phố, thấy người Kinh tổ chức Tết thì mình cũng làm. Thứ hai là chính quyền năm nào cũng cấp tiền cho từng làng người bản địa tổ chức Tết Nguyên đán cho bà con, ít nhất cũng vật một con heo, dăm bảy ghè rượu. Thế là Tết.

Đấy là dưới làng, còn ở thành phố thì Tết Nguyên đán muôn hình vạn trạng. Bởi cư dân ở các đô thị Tây Nguyên chủ yếu là dân góp, từ khắp nơi tụ đến, mỗi vùng góp vào một sắc thái Tết, có cả miền Bắc miền Trung và miền Nam. Cái thời còn khổ thì giáp Tết nhà nào cũng huỳnh huỵch đổ bánh thuẫn, làm mứt các loại, trữ rượu ngâm với tất cả các loại con gì ngọ nguậy có trên đời. Người gốc Bắc thì làm giò thủ dưa hành, người Trung thì bò thưng hoặc tai heo ngâm nước mắm, người Nam thì thịt heo kho hột vịt, tôm khô củ kiệu... tất cả đều với mục đích là... để đưa cay ngày Tết. Giờ nhu cầu ăn ít đi, chỉ còn nhu cầu chơi và... thăm nhau. Mà cái món thăm nhau cũng khổ. Vừa gặp nhau hôm qua, quần đùi áo cộc bá vai bá cổ chén chú chén anh, hôm sau năm mới đã lại trịnh trọng com - lê sang xoa tay thưa gửi chúc Tết như là... vài năm chưa gặp. Phong tục ấy cũng đẹp, nhưng nhiều khi nó làm cho con người mệt. Vào nhà này không thể không vào nhà kia. Nhà nào cũng muốn “thể hiện” nên bao giờ cũng “có cái này hay lắm”, tức là rượu và mồi. Anh nào cũng khoe rượu nhà anh ấy ổn nhất, bia xịn nhất, món đưa cay bà xã làm (hoặc mua từ... nước ngoài) độc nhất. Thế là ít thì một ly, nhiều thì... vài ly. Dăm nhà là đã chân đăm chân chiêu lộn xộn, mà còn lái xe, chở vợ chở con. Mà nào có ít quan hệ, cơ quan nhé, hàng xóm nhé. Thế nên có một số thủ trưởng cơ quan cấp tiến, ngày tất niên cơ quan nói luôn: Hôm nay chúng ta gặp nhau, chúc Tết nhau, rồi thôi, mấy ngày Tết để dành cho gia đình, vợ con nhé. Nhân viên vỗ tay ầm ầm vì được giải đúng cái điều mà họ rất muốn nhưng không dám đề đạt. Vậy nên năm nào cũng có mục thống kê tai nạn giao thông trong từng ngày Tết. Chạy như... đảo nợ thế, uống lai rai cả ngày thế, chất ba chất bốn trên xe thế, ken nhau ngoài đường, không tai nạn mới lạ.

Tết lịch sự nhất, đúng nghĩa nhất là được chơi. Chả vậy mà nhiều gia đình cấp tiến cứ để dành tiền, Tết là đi du lịch. Chúng ta chứng kiến, năm nào cũng thế, cứ Tết là các bến xe bến tàu đông nghịt người, là các xe nhồi xe nhét, là lỉnh kỉnh đồ lề về quê. Phong tục Việt là thế, không thể bỏ được. Là người từng cũng đã hàng năm từ Pleiku về ăn Tết với ba mẹ ở Huế, rồi giờ các con lớn ở hết trong Sài Gòn nên cứ mong Tết nó về với mình, tôi thấu hiểu cái phong tục cũng như tình cảm thiêng liêng của người Việt với Tết. Nó là đoàn tụ, là vinh dự tự hào với bà con hàng xóm, là nghĩa cử với tổ tiên, là sự khát khao dồn nén những dự định, những ước mơ... với quê, với gia đình. Có gia đình trẻ đi làm ăn xa, Tết không đủ tiền về quê vẫn phải vay mượn để về. Phần thì mua vé, phần thì mua quà, rồi đã mang danh đi làm ăn xa về thăm bà con cũng phải có chút tiền lì xì... những thứ ấy nó vừa ấm áp vừa nghĩa tình, nhưng mặt nào đấy, nó hành con người khổ quá. Cứ nhìn những chuyến xe lặc lè xuyên Việt, những bến ga bến tàu người vạ vật như chạy nạn, thì thấy Tết mất hết thi vị, mất hết ý nghĩa. Khu vực miền Trung là nơi người đổ về quê ăn Tết đông nhất. Từ hai đầu đất nước đổ về, chứng tỏ vùng này nghèo, nhưng lại cũng đầy tình nghĩa quê kiểng xóm làng. Nghĩ cho cùng, quê chính là nơi lưu giữ ký ức của con người kỹ nhất, sâu đậm nhất, nó giúp cho con người có chốn để neo mình trong những ngày mưu sinh khốn khó, cũng là nơi để con người le lói niềm tin mỗi khi gặp trắc trở trên hành trình kiếm ăn dằng dặc. Và cũng chính nó khiến con người tiêu tốn nhiều năng lượng tiền của vào đấy nhất. Nó vừa là nơi con người phải quay lưng ra đi, nhưng lại cũng là nơi những người ấy luôn đau đáu hướng về. Đấy chính là mâu thuẫn rất lớn của người Việt và đấy cũng chính là bản sắc người Việt. Nó làm cho chúng ta thương Tết hơn, nhớ Tết hơn, khao khát Tết hơn, nhưng phần nào đấy, cũng... ngại Tết hơn.

Thì thế, Tết, nó mới quyến rũ, mới khiến ta nao nao mỗi khi những tờ lịch cuối cùng của cuốn lịch tường rơi xuống...

Nhà thơ Văn Công Hùng

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Những cung bậc Tết

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT