Những cái “nhất” ở ốc đảo Ðông Bình

Xã hội
Một “ốc đảo” nằm lơ lửng giữa 3 dòng sông (sông Thu Bồn, sông Ly Ly và sông Trường Giang). Hơn mấy trăm năm nay, những người dân “xứ đảo” này chưa một ngày được sống một cuộc sống trọn vẹn, đầy đủ.

(SKDS) - Một “ốc đảo” nằm lơ lửng giữa 3 dòng sông (sông Thu Bồn, sông Ly Ly và sông Trường Giang). Hơn mấy trăm năm nay, những người dân “xứ đảo” này chưa một ngày được sống một cuộc sống trọn vẹn, đầy đủ. Họ chỉ có thể mơ chứ không dám nghĩ đến một ngày “ốc đảo” sẽ có cầu, có nước sạch, có điện - đường - trường - trạm như bất kỳ một thôn xóm bình thường nào khác.

Con đường duy nhất

Từ ngã ba Nam Phước, sau hành trình hơn 45 phút bằng xe máy và 15 phút đi bộ băng qua những con đường ngập nước, chúng tôi về đến được bến đò ngang qua bên kia “ốc đảo” Đông Bình (xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam). Rồi cũng phải mất 30 phút chờ đợi, chiếc đò cũ nát đưa chúng tôi vượt sông để sang bên kia “ốc đảo” Đông Bình. Đông Bình vốn là một làng cổ, nổi tiếng với nghề dệt chiếu. Thế nhưng, nỗi niềm cách trở sông nước cứ khiến ốc đảo này đã nghèo lại càng nghèo thêm. Hơn 10 năm nay, 1.356 người dân sinh sống trên đảo thường xuyên phải qua sông bằng chiếc phà cũ kỹ với bao hiểm nguy rình rập. Ước mơ có được một cây cầu vững chắc luôn nằm trong tiềm thức của nhiều thế hệ người dân “ốc đảo” này.

 Bao nhiêu năm qua, con đò này là phương tiện di chuyển duy nhất của người dân.
Anh Đỗ Văn Hồng (30 tuổi, tổ 14) trăn trở: “Vào mùa nước cạn thì đỡ, chiếc cầu phao bằng tre tuy nguy hiểm nhưng cũng thuận tiện cho giao thông. Đến mùa nước lớn, hằng ngày, con phà cũ nát này phải đưa hàng ngàn lượt người qua sông với biết bao nguy hiểm đe dọa. Khổ sở nhất vẫn là các cháu học sinh đi học ở xã và huyện. Có khi các cháu còn phải thức dậy từ 3 - 4 giờ sáng để ra bến sông chờ đợi đến lượt mình được qua sông đi học. Có những khi, vì sợ các cháu trễ buổi học, người lái tàu phải chở quá số lượng quy định... Nhiều lúc vì sợ sức chứa quá tải của con phà mà một số người dân đành chờ đợi chuyến phà sau”.
 
Anh Nguyễn Ánh Rô (40 tuổi, người lái đò nhiều năm tại nơi đây) tâm sự: “Do con phà nhỏ nên nhiều lúc người dân “ốc đảo” đi khám chữa bệnh hay bị đau ốm thất thường muốn chuyển qua trạm y tế xã hoặc bệnh viện huyện phải chờ đợi, chầu chực rất lâu mới có chuyến đò sang sông. Vào buổi tối hay mùa lũ thì cũng đành “bó tay”. Điều này đã gây nên tâm lý lo lắng, bất an, nhất là đối với những người già yếu, trẻ em. Nếu trước đây, người dân có thói quen ra bờ sông để tắm giặt, lấy nước uống thì nay không còn nữa. Nguồn nước không còn sạch như trước nữa... Chung quy vẫn là thôn đảo chưa có cầu!”.

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Năm, Chủ tịch UBND xã Duy Vinh cho hay: “Nhất định trong thời gian không xa, bằng lòng kiên trì, người dân có thể hy vọng sẽ đến ngày có một cây cầu kiên cố bắc qua sông Trường Giang, nối “ốc đảo” thế giới bên ngoài.” Nhưng chờ đợi đến bao giờ, khi người dân vẫn hằng ngày phải vật lộn với con sóng để đi lại giữa “nền văn minh” bên ngoài?!

Nghề… duy nhất

Đông Bình có nghề làm chiếu nổi tiếng với tên tuổi Chiếu Bàn Thạch từng một thời nức tiếng khắp vùng. Làng nghề có lịch sử cũng ngót 450 năm (có từ đầu thế kỷ 17, thời Trịnh Nguyễn phân tranh). Thủa trước, sản phẩm làng nghề nổi tiếng gần xa, từng là sản phẩm trao đổi của những thương nhân người Hoa, và cũng từng là cống phẩm cho triều đình, quan lại và quý tộc. Tiếng thơm là vậy, nhưng giờ thì đã lùi về dĩ vãng...

Chúng tôi tìm đến ngôi nhà của một người làm chiếu truyền thống lâu năm, chị Trần Thị Bé (35 tuổi, tổ 11, gia đình nhiều thế hệ làm chiếu). Khi tôi hỏi về nghề chiếu, chị Bé chỉ tay vào khung đan chiếu rồi thở dài: “Nghề gì hả mấy chú. Được tiếng vậy thôi chứ giờ cả làng còn mấy người làm nữa. Họ đã chuyển đổi nghề nghiệp rồi, bám theo nghề chiếu này có mà đói. Làm quần quật cả ngày chỉ kiếm được không đến 25.000 đồng/ngày. Chưa kể, để có một chiếc chiếu hoàn chỉnh là cả một quá trình đòi hỏi sự tỉ mỉ và công phu của người thợ!”.

Nhiều đời qua đi, người dân nơi đây vẫn biết nỗi khó khăn, khổ cực từ nghề chiếu, nhưng vì đây là nghề truyền thống của người làng và không còn nghề nào khác nên họ mới quyết tâm theo đuổi để không khỏi thất truyền. Theo anh Võ Đức Cương, sở dĩ làng nghề gặp khó khăn cũng một phần vì giao thông cách trở, toàn thôn bị cô lập với “thế giới bên ngoài” bởi tứ bề là nước và nước, nhất là vào mùa lũ. Thêm vào đó, đất đai không thể trồng được giống cây nào ngoài cây cói. Vì thế mà không ai và không gia đình nào có thể bỏ được nghề.

 Gia đình anh Võ Đức Cương vẫn bền bỉ với nghề dệt chiếu.

Anh Cương cũng cho biết, hiện tại cả thôn có 363 hộ dân. Trong đó có 254 hộ làm nghề chiếu đang đình đốn, khoảng 100 hộ làm nghề chài lưới còn khá bấp bênh, số còn lại làm một số nghề khác. Chính vì chỉ có 2 nghề thu nhập ít ỏi này mà hằng năm (nhất là mùa đông, bị cô lập), người dân lại nơm nớp nỗi lo thiếu ăn và cả sự hoành hành của “hà bá” có thể “nuốt” chửng “ốc đảo” khi nào không hay. Nhưng bên cạnh đó, người dân nơi đây cũng đã được tận hưởng niềm vui mới...

Niềm vui duy nhất là... nước sạch

Cách đây không lâu, vấn đề vận chuyển nước sạch hết sức khó khăn. Người dân địa phương vẫn phải sử dụng nguồn nước bị nhiễm phèn từ các giếng đào dưới lòng đất để tắm giặt, có khi còn dùng để ăn uống lúc mùa mưa bão, không đi lấy nước được. Sau nhiều năm mòn mỏi đợi chờ thì giờ đây 363 hộ dân của thôn Đông Bình đã có nước sạch, chấm dứt tình trạng phải xách canh (thùng) đi qua bên kia sông để mua nước ngọt sử dụng với giá đắt đỏ. Niềm vui có nước sạch là cả niềm mong đợi sau nhiều năm của người dân.

Những phận đời sống vùng sông nước, nỗi day dứt về cái nghèo, cái khổ vẫn đeo đuổi làng quê thanh bình này. Người dân nơi đây hiểu lắm nỗi khổ cực và lam lũ của những người dân quê. Nhưng họ vẫn hy vọng vào một ngày mai tươi sáng hơn...          

Bài, ảnh:Hữu Cường


Ý kiến của bạn