Nhiều thành tựu trong công tác DS-KHHGĐ

Tin nóng y tế
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác DS-KHHGĐ, nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp quy cũng như đầu tư khá nhiều kinh phí.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác DS-KHHGĐ, nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp quy cũng như đầu tư khá nhiều kinh phí. Nhờ đó, chúng ta cũng thực hiện tốt cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc thực hiện Chương trình hành động về dân số và phát triển (ICPD Cairo 1994), cam kết của Nhà nước Việt Nam trong việc thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc...

Giảm sinh góp phần làm tăng trưởng GDP

Theo kinh nghiệm của quốc tế được UNFPA công bố, nếu chi 1 USD cho KHHGĐ thì sẽ tiết kiệm được 31 USD chi cho xã hội. Do đó, giảm mức tăng dân số giúp chúng ta tiết kiệm các khoản chi cho các dịch vụ xã hội để dành vốn đầu tư cho các lĩnh vực phát triển KTXH nhằm thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân.

Công tác DS-KHHGĐ Việt Nam có những kết quả nổi bật thể hiện ở kết quả cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/2009: Với số dân là 85,8 triệu người, mỗi năm Việt Nam tăng thêm 952 nghìn người (đây là lần đầu tiên trong suốt nhiều thập kỷ, số người tăng thêm mỗi năm ở mức dưới 1 triệu người, trong khi số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giai đoạn này tăng hơn rất nhiều so với giai đoạn trước đó). Tỷ lệ gia tăng dân số trung bình hàng năm đã giảm từ 1,7% (giai đoạn 1989 - 1999) xuống còn 1,2% (giai đoạn 1999 - 2009) - đây là mức giảm sinh lớn nhất và tỷ lệ gia tăng dân số thấp nhất trong vòng 50 năm qua). Số con trung bình của 1 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm xuống còn 2,03 con và đạt dưới mức sinh thay thế.

Bên cạnh đó, giảm sinh ở Việt Nam đã góp phần làm tăng khoảng 2% GDP bình quân đầu người. Theo tính toán của các nhà hoạch định chính sách, nếu so sánh với phương án dự báo dân số là 105,45 triệu người vào năm 2010 thì GDP bình quân đầu người năm 2010 tăng gấp 2,57 lần so với năm 1990. Như vậy, nỗ lực của ngành y tế nói chung và ngành DS-KHHGĐ nói riêng trong 20 năm qua đã trực tiếp làm tăng 0,38 lần GDP bình quân đầu người, bình quân tăng khoảng 2% mỗi năm.

Những thành tựu đó đồng thời giúp chúng ta thực hiện thành công các mục tiêu thiên niên kỷ tại Việt Nam. Thứ nhất, góp phần nâng cao sức khỏe bà mẹ (MDG5) và Giảm tử vong ở trẻ em (MDG4): Bình quân hàng năm hiện nay cả nước chỉ có khoảng 1,4 - 1,5 triệu phụ nữ mang thai và sinh đẻ, so với 2,2 - 2,3 triệu phụ nữ mang thai và sinh đẻ hàng năm, có nghĩa là hàng năm giảm khoảng 90 vạn phụ nữ không tham gia vào sinh đẻ, không có nguy cơ tử vong do thai sản. Hai là góp phần tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế, năng lực cho phụ nữ (MDG3): do đẻ muộn, đẻ thưa, đẻ ít làm cho mẹ khỏe, con khỏe; làm cho người phụ nữ có nhiều cơ hội để học tập văn hoá, khoa học và tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội. Thứ ba, góp phần giảm tình trạng đói nghèo (MDG1): Hàng năm giảm khoảng 90 vạn phụ nữ không tham gia vào sinh đẻ, do vậy sẽ tăng thêm 108 triệu ngày công lao động của phụ nữ do nghỉ thai sản và 163 triệu ngày công của người mẹ do trẻ em dưới 15 tuổi ốm mẹ nghỉ (theo Điều tra mức sống dân cư 2008, số ngày trẻ em từ 0 - 4 tuổi phải nghỉ do bị ốm/chấn thương là 7,7 ngày/năm, trẻ từ 5 - 14 tuổi phải nghỉ do bị ốm/chấn thương là 5,5 ngày/năm). Nhờ đó mà các cặp vợ chồng không chỉ có điều kiện để đầu tư cho phát triển kinh tế mà còn tạo điều kiện để nuôi dạy con tốt, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của cộng đồng và toàn xã hội.

 Phát tài liệu truyền thông công tác DS-KHHGĐ.

Giảm tăng dân số hướng tới bền vững

Tuy nhiên, theo nhận định của nhiều chuyên gia, tuy Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế nhưng công tác DS-KHHGĐ lại đang gặp phải những thách thức mới nảy sinh, đó là: Mức sinh còn biến động khó lường do tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn ăn sâu trong tâm lý người dân. Hơn nữa, số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đang tiếp tục tăng nhanh, dự báo sẽ đạt cực đại vào năm 2020 - 2025; sự mất cân bằng giới tính khi sinh ở mức cao (tỷ số giới tính khi sinh bé trai/ bé gái ngày càng tăng, năm 1999 là 107; 2006 là 110, lên 111 vào năm 2007 và 112 vào năm 2008)… Bên cạnh đó, hiện nay, tuổi thọ bình quân của Việt Nam là 72,8 tuổi, nhưng tuổi thọ bình quân khỏe mạnh rất thấp, chỉ 66 tuổi.

Do đó, theo TS. Dương Quốc Trọng, Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ, Bộ Y tế, mặc dù Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu về DS-KHHGĐ, song những kết quả này chưa bền vững. Để khắc phục những khó khăn, thách thức trên, đòi hỏi cần có sự quan tâm, phối hợp thực hiện của nhiều cấp, nhiều ngành cũng như sự hiểu biết, ủng hộ của toàn dân về công tác DS-KHHGĐ. 

Thương Huyền


Ý kiến của bạn