Việt Nam tăng nhiệt nhanh, nắng nóng có thể gia tăng mạnh
Sáng ngày 9/10, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển tổ chức Hội thảo công bố Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam, bản cập nhật năm 2025.
Trình bày về Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam, bản cập nhật năm 2025, TS. Trương Bá Kiên, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển cho biết, kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam phiên bản năm 2025 được xây dựng trên cơ sở khung của Báo cáo đánh giá lần thứ sáu của Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC AR6), kết hợp lựa chọn kịch bản phát thải, sàng lọc mô hình khí hậu, chi tiết hóa dữ liệu và hiệu chỉnh sai số. Quy trình này nhằm tạo ra bộ kịch bản có cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện Việt Nam và phục vụ đánh giá tác động của biến đổi khí hậu.

Nhiệt độ ở Việt Nam sẽ liên tục tăng rất mạnh trong tương lai. Ảnh: Tuấn Anh
TS Trương Bá Kiên cho biết, kịch bản biến đổi khí hậu phiên bản năm 2025 cho thấy nhiệt độ tại Việt Nam tiếp tục tăng trong tương lai, trong đó miền Bắc và Bắc Trung Bộ là những khu vực có mức tăng đáng chú ý. Cùng với nguy cơ nắng nóng gia tăng, số liệu về bão và áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông cho thấy số lượng tăng nhẹ, nhưng số bão mạnh từ cấp 12 trở lên tăng nhanh hơn. Đây là những diễn biến đặt ra yêu cầu chủ động ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan và rủi ro thiên tai.
Theo các số liệu được tổng hợp trong Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam phiên bản năm 2025, nhiệt độ trung bình năm tại Việt Nam đã tăng rõ rệt trên phạm vi cả nước. Trong giai đoạn 1961-2023, mức tăng phổ biến ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ khoảng 0,3-0,5 độ C mỗi thập kỷ. Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên có mức tăng thấp hơn, trong khi Nam Bộ tăng nhẹ hơn.
Xu thế tăng nhiệt không chỉ thể hiện ở nhiệt độ trung bình mà còn ở các chỉ số nhiệt độ cực trị. Nhiệt độ tối cao cực đại và nhiệt độ tối thấp cực tiểu đều có xu hướng tăng trên phạm vi cả nước. Trong đó, mức tăng nhiệt độ cực trị tại Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ nổi bật hơn so với một số khu vực khác.
Diễn biến này cho thấy Việt Nam đang đối mặt với tình trạng nóng lên không chỉ qua nền nhiệt trung bình mà còn ở những thời điểm nóng nhất và lạnh nhất. Khi các chỉ số nhiệt độ cực trị cùng tăng, nguy cơ xuất hiện những đợt nắng nóng gay gắt hơn cũng trở thành vấn đề cần được quan tâm trong các kịch bản khí hậu tương lai.
Theo kịch bản SSP2-4.5, mức tăng nhiệt độ trung bình năm của Việt Nam vào cuối thế kỷ XXI, giai đoạn 2081-2100, khoảng 2,1 độ C so với thời kỳ cơ sở. Khoảng biến đổi giữa các mô hình được đưa ra ở mức 1,7-2,7 độ C. Với kịch bản SSP1-2.6, mức tăng trung vị khoảng 1,3 độ C, khoảng biến đổi 1,0-1,6 độ C. Trong khi đó, ở kịch bản SSP3-7.0, mức tăng trung vị lên tới 2,8 độ C, khoảng biến đổi 2,2-4,0 độ C.
"Các con số cho thấy mức tăng nhiệt độ vào cuối thế kỷ có sự khác biệt giữa các kịch bản phát thải. Tuy nhiên, điểm chung là nhiệt độ tại Việt Nam đều tăng trong cả ba kịch bản được lựa chọn để xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam", TS Trương Bá Kiên nhận định.
Ông cho biết, mức tăng cũng không đồng đều giữa các vùng. Với kịch bản SSP2-4.5 vào cuối thế kỷ XXI, nhiều khu vực ở Bắc Bộ có mức tăng nhiệt độ trung bình năm khoảng 3,0-4,0 độ C; Bắc Trung Bộ khoảng 2,5-3,5 độ C. Tây Nguyên tăng khoảng 1,5-2,5 độ C, còn Nam Bộ tăng khoảng 1,0-2,0 độ C. Như vậy, miền Bắc và Bắc Trung Bộ tiếp tục là những khu vực cần đặc biệt lưu ý trước xu thế gia tăng nhiệt độ.
Đáng chú ý, các chỉ số nhiệt độ tối cao và tối thấp đều tăng khi mức nóng lên toàn cầu cao hơn. Ở mức nóng lên toàn cầu 3 độ C, nhiệt độ tối cao cực đại tại Việt Nam tăng khoảng 3,2 độ C, còn nhiệt độ tối thấp cực tiểu tăng khoảng 3,5 độ C so với thời kỳ hiện tại. Khi mức nóng lên toàn cầu đạt 4 độ C, hai chỉ số này lần lượt tăng khoảng 4,3 độ C và 4,7 độ C.
Theo kịch bản SSP3-7.0 vào cuối thế kỷ XXI, số ngày nắng nóng có thể tăng khoảng 70-75 ngày; số ngày nắng nóng gay gắt có thể tăng khoảng 20-30 ngày. Ở chiều ngược lại, số ngày rét đậm tại vùng núi Tây Bắc có thể giảm 40-50 ngày, số ngày rét hại giảm 20-30 ngày.
Sự thay đổi này không chỉ là câu chuyện về nhiệt độ. Nắng nóng gia tăng có thể làm tăng nguy cơ say nắng, kiệt sức, bệnh tim mạch và hô hấp; đồng thời làm tăng nhu cầu sử dụng nước, điện cho sinh hoạt, sản xuất và làm mát. Đối với nông nghiệp, nguy cơ hạn hán và ảnh hưởng đến cây trồng có thể gia tăng, kéo theo những tác động tới an ninh lương thực. Điều kiện thời tiết khô nóng cũng làm tăng nguy cơ cháy rừng.
Chuyên gia nhận định, kịch bản biến đổi khí hậu vì thế cho thấy cần quan tâm đồng thời đến mức tăng nhiệt độ trung bình, các cực trị nhiệt độ và sự thay đổi số ngày nắng nóng. Đây là những thông tin quan trọng để đánh giá rủi ro và xây dựng phương án thích ứng trong dài hạn.
Số lượng bão tăng nhẹ, nhưng bão mạnh gia tăng nhanh hơn
TS Trương Bá Kiên cho biết, bên cạnh xu thế nóng lên, số liệu về bão và áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông cho thấy một diễn biến đáng chú ý: số lượng bão và áp thấp nhiệt đới tăng nhẹ, trong khi số bão mạnh tăng nhanh hơn.
Trong giai đoạn 1991-2025, Biển Đông ghi nhận trung bình khoảng 12,7 cơn bão và áp thấp nhiệt đới mỗi năm. Trong số này, trung bình khoảng 3,4 cơn mỗi năm là bão mạnh, được xác định từ cấp 12 trở lên.
Phân tích xu thế số liệu cho thấy tổng số bão và áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông tăng khoảng 0,16 cơn mỗi thập kỷ. Trong khi đó, số bão mạnh từ cấp 12 trở lên tăng khoảng 0,38 cơn mỗi thập kỷ, cao hơn tốc độ tăng của tổng số bão và áp thấp nhiệt đới.
Sự khác biệt giữa hai xu thế là điểm cần lưu ý. Tổng số bão và áp thấp nhiệt đới không tăng mạnh, nhưng nhóm bão có cường độ lớn lại có xu hướng gia tăng nhanh hơn. Vì vậy, chỉ dựa vào số lượng bão trong một năm sẽ chưa phản ánh đầy đủ nguy cơ thiên tai trên Biển Đông.

Số bão mạnh trên Biển Đông có xu hướng tăng nhanh hơn tổng số bão, áp thấp nhiệt đới. Ảnh: PV
Số liệu theo từng năm cũng cho thấy hoạt động bão và áp thấp nhiệt đới biến động lớn. ENSO là một trong những nhân tố quan trọng chi phối năm có nhiều bão hoặc ít bão. La Nina thường gắn với điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động bão trên Biển Đông. Điều này cho thấy số lượng bão không cố định mà thay đổi đáng kể theo từng năm, trong khi xu thế dài hạn của bão mạnh vẫn cần được theo dõi riêng.
Chuyên gia phân tích, khi bão mạnh xuất hiện, những rủi ro đi kèm không chỉ là gió lớn. Mưa lớn có thể gây ngập lụt, sạt lở đất, ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất. Gió mạnh có thể làm hư hại nhà cửa, công trình, cây xanh và lưới điện. Nước dâng và sóng lớn làm tăng nguy cơ ngập vùng ven biển, xói lở bờ biển, ảnh hưởng đến công trình cảng biển, nuôi trồng thủy sản và các hoạt động kinh tế ven biển.
Đáng lưu ý, xu thế gia tăng bão mạnh là tín hiệu quan trọng đối với công tác quản lý rủi ro và ứng phó thiên tai ven biển. Trong bối cảnh số lượng bão và áp thấp nhiệt đới biến động qua từng năm, việc đánh giá nguy cơ không thể chỉ dựa vào tổng số cơn mà cần quan tâm đến cường độ và những tác động có thể xảy ra.
TS Trương Bá Kiên nhận định, hai vấn đề được đặt ra từ các kịch bản khí hậu là nhiệt độ tại Việt Nam tiếp tục tăng, kéo theo nguy cơ nắng nóng gay gắt gia tăng, và số bão mạnh trên Biển Đông có xu hướng tăng nhanh hơn tổng số bão, áp thấp nhiệt đới. Đây là cơ sở để chủ động hơn trong đánh giá rủi ro, chuẩn bị phương án ứng phó và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai.
Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam, bản cập nhật năm 2025 sử dụng nguồn dữ liệu quan trắc và dữ liệu lưới sử dụng giai đoạn 1961-2023, từ 186 trạm khí tượng thủy văn và khoảng 3.000 trạm mưa tự động trong những năm gần đây. Các biến chính gồm lượng mưa, nhiệt độ trung bình, nhiệt độ tối cao và nhiệt độ tối thấp. Ngoài ra, kịch bản sử dụng dữ liệu vệ tinh, ảnh Landsat 7/8, JAXA LULC, cơ sở dữ liệu bão IBTrACS và số liệu mực nước biển từ trạm quan trắc, vệ tinh trong giai đoạn 1993-2023.