Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm để nâng cao năng suất lao động đến năm 2030

Chính sách
SKĐS - UBND. TP. Hà Nội chủ trương thúc đẩy mạnh mẽ khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, tạo động lực tăng năng suất lao động.

Theo Kế hoạch số 420/KH-UBND ngày 27/10/2026 của UBND TP. Hà Nội về việc triển khai nâng cao năng suất lao động quốc gia gắn với phát triển thị trường lao động đồng bộ, hiện đại, hiệu quả trong giai đoạn mới, việc thúc đẩy mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo động lực tăng năng suất lao động là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của thành phố giai đoạn 2026 - 2030.

Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm để nâng cao năng suất lao động đến năm 2030- Ảnh 1.

UBND TP. Hà Nội chủ trương thúc đẩy mạnh mẽ khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, tạo động lực tăng năng suất lao động (ảnh: AI).

Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm để nâng cao năng suất lao động

1. Tăng cường công tác quán triệt, tuyên truyền, nâng cao nhận thức

- Nâng cao trách nhiệm của hệ thống chính trị: Các sở, ban, ngành Thành phố và Ủy ban nhân dân các xã, phường tổ chức quán triệt sâu sắc Kết luận số 62-KL/TW của Ban Bí thư và Quyết định số 1685/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, cộng đồng doanh nghiệp và người lao động trên địa bàn. Nhất quán xác định nâng cao năng suất lao động là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên và lâu dài; phải cụ thể hóa chủ trương này thành các chỉ tiêu, chương trình hành động hàng năm của từng ngành, từng địa phương, đơn vị.

- Đổi mới toàn diện nội dung, phương thức truyền thông: Đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số, đa dạng hóa các sản phẩm truyền thông hiện đại (infographic, video ngắn, podcast...) trên Cổng Thông tin điện tử Thành phố, hệ thống truyền thanh cơ sở và các nền tảng số, mạng xã hội chính thống. Chủ động nghiên cứu, ứng dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) trong biên tập, thiết kế hình ảnh, xử lý dữ liệu truyền thông nhằm tối ưu hóa quy trình sản xuất ấn phẩm và nâng cao hiệu quả tương tác với Nhân dân.

- Phát động các phong trào thi đua nâng cao năng suất: Phát động sâu rộng phong trào thi đua "Lao động giỏi, năng suất cao, thu nhập tốt", thúc đẩy cải tiến kỹ thuật và nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất. Kịp thời biểu dương, khen thưởng và nhân rộng các mô hình doanh nghiệp, tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, đạt năng suất lao động vượt trội.

2. Xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù của Thành phố về giáo dục nghề nghiệp, giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động

- Ban hành chính sách đặc thù hỗ trợ đào tạo nghề sơ cấp và ngắn hạn: Nghiên cứu, tham mưu trình HĐND Thành phố ban hành Nghị quyết quy định chính sách đặc thù hỗ trợ đào tạo nghề trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng cho các nhóm lao động ưu tiên, lao động thuộc diện thu hồi đất, bộ đội xuất ngũ và lao động yếu thế trên địa bàn Thành phố.

- Chính sách hỗ trợ nâng cao kỹ năng nghề và học nghề chuyển đổi: Nghiên cứu, trình HĐND Thành phố ban hành chính sách đặc thù hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề; hỗ trợ tham gia đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho các nhóm đối tượng đặc thù (người chấp hành xong hình phạt tù, người sau cai nghiện ma túy, lao động nông thôn, lao động diện thu hồi đất thực hiện các dự án trọng điểm và lao động đang hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp).

- Rà soát, hoàn thiện thể chế và hạ tầng pháp lý: Định kỳ rà soát, chủ động đề xuất, kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về đào tạo nghề, việc làm và an sinh xã hội; bảo đảm phù hợp với quy luật cung - cầu của thị trường lao động hiện đại, hài hòa lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển Thủ đô "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại".

3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong giai đoạn mới

- Đổi mới mạnh mẽ mô hình đào tạo nghề: Chuyển dịch căn bản từ mô hình "đào tạo theo khả năng sẵn có" sang "đào tạo theo đơn đặt hàng và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp", lấy kỹ năng số, ngoại ngữ và tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) làm trọng tâm. Triển khai các chính sách hỗ trợ đào tạo, đào tạo lại, chuyển đổi nghề nghiệp giúp người lao động chủ động thích ứng với các yêu cầu mới trong quá trình chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

- Thúc đẩy liên kết sâu rộng giữa Cơ sở giáo dục nghề nghiệp và Doanh nghiệp: Kết hợp chặt chẽ giữa các nhà trường với doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, hợp tác xã để xây dựng chương trình giảng dạy thực hành; tập trung vào các ngành mũi nhọn: công nghệ cao, du lịch, thương mại điện tử, logistics và dịch vụ nông nghiệp hiện đại. Khuyến khích cơ sở giáo dục nghề nghiệp mời chuyên gia, nghệ nhân từ các doanh nghiệp lớn tham gia giảng dạy, xây dựng chương trình, bảo đảm người học có kỹ năng thực hành đáp ứng ngay yêu cầu công việc, không phải đào tạo lại.

- Phát triển nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế có năng suất lao động cao: Ưu tiên thu hút dự án FDI công nghệ cao (bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học); thúc đẩy phát triển các sản phẩm công nghiệp "Made in Vietnam" mang thương hiệu Thủ đô.

- Đào tạo nhân lực nông nghiệp, nông thôn gắn với quá trình đô thị hóa thực chất: Lấy người dân nông thôn làm chủ thể, tạo chuyển biến rõ nét về chuyển đổi nghề nghiệp, nâng cao thu nhập và năng lực thích ứng. Hằng năm, tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn chuyên sâu cho nông dân, cán bộ hợp tác xã, chủ trang trại, chủ thể OCOP, nghệ nhân làng nghề về kỹ thuật sản xuất tiên tiến, an toàn thực phẩm, chuyển đổi số, thương mại điện tử, quản trị kinh doanh, truy xuất nguồn gốc và kỹ năng tiếp cận thị trường.

- Phát triển hệ thống đánh giá và công nhận kỹ năng nghề: Tăng cường đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; chuyển dịch mạnh mẽ nhận thức xã hội từ "coi trọng bằng cấp" sang "coi trọng kỹ năng nghề, năng lực thực hành, khả năng thích ứng và hiệu quả công việc thực tế".

4. Thúc đẩy mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo động lực tăng năng suất lao động

- Chuyển đổi số trong kết nối cung – cầu lao động: Thiết lập "Kho dữ liệu sống", vận hành "Bộ não AI" để khai thác dữ liệu từ Cổng thông tin việc làm Thành phố; xây dựng và chuẩn hóa dữ liệu hồ sơ số cho người lao động và doanh nghiệp trên cơ sở dữ liệu tại Cổng thông tin việc làm Thành phố và dữ liệu liên thông kết nối với Sàn giao dịch việc làm quốc gia, kết nối LGSP với cơ sở dữ liệu dùng chung của Thành phố để khai thác các dữ liệu liên quan đến doanh nghiệp, người lao động, việc làm. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tự động hóa quy trình sàng lọc, kết nối hồ sơ; phấn đấu giảm từ 30% đến 50% thời gian tuyển dụng trung bình của doanh nghiệp và thời gian chờ việc của người lao động. Thúc đẩy và chuẩn hóa các mô hình việc làm từ xa, việc làm linh hoạt nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố khai thác hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao trên toàn quốc và quốc tế.

- Chuyển đổi số trong vận hành và quản trị của doanh nghiệp:

+ Số hóa công tác quản trị nhân sự: Khuyến khích các doanh nghiệp trên địa bàn áp dụng mô hình tuyển dụng trực tuyến, phỏng vấn số và quản lý nhân lực dựa trên dữ liệu, chuẩn hóa hạ tầng công nghệ để thực hiện số hóa toàn bộ hồ sơ nhân sự, ứng dụng hợp đồng lao động điện tử (e-Contract), ứng dụng các giải pháp số trong quản lý thông tin lao động, bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và tuân thủ quy định của pháp luật.

+ Thích ứng với các hình thái việc làm mới: Doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình, chủ động tiếp nhận và vận hành các mô hình làm việc linh hoạt, làm việc từ xa nhằm khai thác nguồn nhân tài chất lượng cao không bị giới hạn bởi địa giới hành chính. Khuyến khích đổi mới mô hình quản trị nhân sự theo mục tiêu và hiệu suất công việc thay thế cho phương thức quản lý thời gian truyền thống.

+ Thúc đẩy thương mại hóa nghiên cứu: Đẩy mạnh đưa các sáng chế, kết quả nghiên cứu khoa học vào ứng dụng thực tế để tạo ra sản phẩm giá trị gia tăng cao.

- Ứng dụng công nghệ trong sản xuất, tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp: Thí điểm chuyển giao các mô hình công nghệ sản xuất quy mô nhỏ (tưới tự động tiết kiệm nước, máy ấp trứng mini, công nghệ sấy năng lượng mặt trời) trực tiếp tại cấp xã, phường. Hỗ trợ hộ kinh doanh, hợp tác xã và làng nghề ứng dụng công nghệ IoT, hệ thống truy xuất nguồn gốc (QR Code) và chuẩn hóa bao bì, thương hiệu. Thúc đẩy đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử; xây dựng các ứng dụng (App) kết nối trực tuyến giữa người lao động với chuyên gia nông nghiệp, kỹ thuật viên để hỗ trợ kỹ thuật thời gian thực.

- Hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo: Đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh cho các mô hình hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp siêu nhỏ. Cung cấp các "Gói hỗ trợ khởi nghiệp thiết yếu" (bao gồm tư vấn pháp lý, kế toán, quản trị marketing) miễn phí hoặc ưu đãi. Hình thành các điểm tư vấn khởi nghiệp tại cấp xã; tập trung ươm tạo các ý tưởng khởi nghiệp từ sản phẩm đặc thù địa phương (Chương trình OCOP, đặc sản vùng miền) để xây dựng các mô hình kinh tế tự chủ bền vững.

5. Phát triển thị trường lao động, tạo làm bền vững, chú trọng bảo đảm an sinh xã hội, an ninh trật tự, an ninh công nhân và ổn định quan hệ lao động trên địa bàn Thành phố

- Phát triển thị trường lao động hiện đại và chuyển dịch mô hình hỗ trợ an sinh: Phát triển thị trường lao động linh hoạt, bao trùm và bền vững, thích ứng hiệu quả với nền kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với lộ trình chuyển đổi căn bản mô hình hỗ trợ nhóm lao động ưu tiên, lao động yếu thế từ "trợ giúp xã hội" sang "nâng cao năng lực, tạo dựng sinh kế và chủ động kết nối thị trường lao động".

- Mở rộng diện bao phủ bảo hiểm: Triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm tình trạng chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm để bảo vệ quyền lợi cốt lõi của người lao động.

- Hiện đại hóa công tác chi trả an sinh xã hội và chuyển đổi số ngành BHXH: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quy trình tiếp nhận, giải quyết chính sách bảo hiểm; khai thác và phát huy hiệu quả ứng dụng VssID (Bảo hiểm xã hội số) nhằm tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp và người lao động theo dõi trực tuyến, minh bạch quá trình đóng - hưởng.

- Tối ưu hóa nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội giải quyết việc làm: Tối ưu hóa nguồn vốn ngân sách Thành phố ủy thác qua Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội để cho vay vốn giải quyết việc làm, đáp ứng kịp thời nhu cầu của các đối tượng thụ hưởng; Định kỳ rà soát, bố trí ngân sách chuyển bổ sung vốn ủy thác và hoàn thiện cơ chế, chính sách tín dụng nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất để người lao động tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi, thúc đẩy tự tạo việc làm tại địa phương.

- Chủ động nắm bắt tình hình, bảo đảm an ninh công nhân và ổn định quan hệ lao động:

+ Chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa: Định kỳ rà soát, phân tích, phát hiện kịp thời các dấu hiệu biến động bất thường về nhân sự, cắt giảm lao động quy mô lớn tại các doanh nghiệp, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp. Chủ động nắm bắt tình hình, phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm các hoạt động lôi kéo, kích động người lao động tụ tập đông người trái pháp luật gây mất an ninh trật tự.

+ Bảo vệ an toàn môi trường sản xuất: Đấu tranh hiệu quả với mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh công nhân. Duy trì môi trường sản xuất kinh doanh an toàn, an ninh tại các khu, cụm công nghiệp tập trung đông lao động.

+ Tăng cường kiểm tra, hậu kiểm tra: Tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động, an toàn - vệ sinh lao động, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; đôn đốc doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc các kết luận hậu kiểm tra. Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, giải quyết dứt điểm các mâu thuẫn phát sinh, giảm thiểu tối đa các tranh chấp lao động tập thể dẫn đến đình công, lãn công trái pháp luật.

Kế hoạch số 420/KH-UBND

Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm để nâng cao năng suất lao động đến năm 2030- Ảnh 2.Hà Nội đặt mục tiêu tăng chuẩn trợ cấp xã hội so với chuẩn chung cả nước

SKĐS - Hà Nội đề xuất điều chỉnh tăng chuẩn trợ cấp xã hội và hỗ trợ đột xuất vượt trội so với chuẩn chung cả nước.



Ý kiến của bạn