Nhân liên tưởng đến Tế Hanh và Hoàng Trung Thông

Văn hóa – Giải trí
Trong đầu óc tôi, mỗi khi nghĩ đến những bạn thơ quá cố, bao giờ nghĩ đến Tế Hanh tôi cũng nghĩ liền tới Hoàng Trung Thông hoặc ngược lại. Tuổi thì hai anh gần sát nhau,
(SKDS) - Trong đầu óc tôi, mỗi khi nghĩ đến những bạn thơ quá cố, bao giờ nghĩ đến Tế Hanh tôi cũng nghĩ liền tới Hoàng Trung Thông hoặc ngược lại. Tuổi thì hai anh gần sát nhau, Tế Hanh sinh năm 1921, Hoàng Trung Thông sinh năm 1925; tính cách và thơ hai người rất khác nhau nhưng họ là đôi bạn tốt của nhau. Anh Tế Hanh người Quảng Ngãi, dáng thư sinh, ăn nói nhỏ nhẹ, thường thổ lộ tình cảm trong giao tiếp mỗi khi tôi thăm anh ở phố Nguyễn Thượng Hiền. Anh Thông là dân xứ Nghệ, dáng người và nói năng rắn rỏi, lý trí mạnh hơn tình cảm. Mỗi lần tôi đến thăm anh ở phố Ngô Quyền, anh tiếp thân mật và trân trọng. Có lẽ vì sự khác nhau đó mà Tế Hanh suốt đời chỉ là nhà thơ, còn Hoàng Trung Thông thì đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ lãnh đạo văn nghệ.
 
Sự liên tưởng của tôi có lẽ do một lý do đơn giản: Lần đầu tiên tôi gặp hai anh khoảng năm 1965 ở Trường Trung cao Nguyễn Ái Quốc. Lạc lõng giữa những cán bộ chính trị, ba chúng tôi làm văn hoá nên dễ thân nhau. Hai anh được đi học dài hạn hẳn là theo quy định thường xuyên bồi dưỡng tư tưởng cán bộ. Còn tôi, “bị” đi học 6 tháng, coi như hình thức kỷ luật. Kể lại để thấy thời ấu trĩ đã qua: Sau Cải cách ruộng đất đến đấu tố “xét lại” và “Mao-it”, từ 1957 - 1963, ở bộ đội ra, tôi làm nhiệm vụ Tổng biên tập tạp chí tiếng Pháp – Anh - Quốc tế ngữ Việt Nam tiến bước. 5 năm sau, đùng một cái, ông L.Q.K. theo chỉ thị của ông T.H. cho đóng cửa tạp chí vì nội dung “có khuynh hướng tư sản”. Lý do đưa ra trong các cuộc “đấu tố” (gọi là kiểm điểm) của một vài cán bộ trẻ được vận động trước thật tức cười.
 
Xin lấy một ví dụ: Trong mục Con người bình thường của tạp chí thường đề cao lao động yêu nước, có lần tôi khen một diễn viên xiếc dạy hổ. Chúng tôi bị đấu là “mất lập trường” (1-Hổ dạy được, như vậy ám chỉ giai cấp tư sản có thể cải tạo được.  2- Giễu cợt câu nói của Mao chủ tịch về “đế quốc Mỹ là con hổ giấy”)… Đại loại các chứng cứ để lên án là thế, ngày nay khó tưởng tượng là có những cuộc “đấu tố” kiểu ấy! Chắc anh Tế Hanh và anh Hoàng Trung Thông biết lý do tôi đi học, nhưng thái độ hai anh với tôi rất niềm nở. Hai anh còn đề nghị tôi dạy tiếng Anh vào các giờ nghỉ, điều nhà trường không khuyến khích.
 
Đầu những năm 70, tôi có dịp cộng tác chặt chẽ với hai anh cùng các anh Chế Lan Viên và Huy Cận. Lúc đó, anh Nguyễn Khắc Viện có sáng kiến làm một Tuyển tập văn học Việt Nam bằng tiếng Pháp: Cuộc chiến tranh Mỹ - Việt đang ở cao điểm, ta cần cho thế giới, nhất là phương Tây biết dân tộc ta có một nền văn hoá truyền thống nhân bản để gây cảm tình và thu hút thêm sự ủng hộ. Giới thiệu văn học nghìn năm của ta qua tiếng Pháp, vì lúc đó ta chưa có đủ dịch giả tiếng Anh. Anh Viện cùng tôi làm chủ biên bộ Tuyển tập ấy (2.000 trang, 4 tập).
 
Các nhà thơ Tế Hanh, Hoàng Trung Thông, Chế Lan Viên, Huy Cận cùng chúng tôi chọn các tác giả và bài. Các dịch giả NXB Ngoại văn cùng một số cộng tác viên nhận phần dịch với sự giúp đỡ của hai nhà thơ Pháp Francoise Corrèze và Mireille Gansel. Bộ Tuyển tập ra đời được dư luận quốc tế (sau có cả bản tiếng Anh) hoan nghênh, tái bản ở Paris và chuyển sang nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới.

Báo Pháp Le Monde bình luận “Suốt ngày đêm, 100 máy bay B52 và hàng trăm máy bay chiến đấu đã dội bom xuống các xóm làng, thành thị, nhưng đối phương của họ là những người cứng đầu, vì họ có trí thông minh và lòng tự hào. Họ vừa xuất bản một Tuyển tập rất trau chuốt, gồm những bài thơ cổ dịch sang tiếng Pháp”. Viện sĩ Nga L.Z. Eidline cho là: “Lần đầu tiên, văn học Việt Nam đã được giới thiệu với độc giả nước ngoài, với tất cả sự phong phú của nó”. Nhà báo Mỹ R.Friend đánh giá: “Tác phẩm có giá trị này đã vươn lên từ Việt Nam… Nó lấp một khoảng trống thê thảm trong tri thức của chúng ta về văn học phương Đông”.

Trong công việc biên soạn Tuyển tập, việc lựa chọn tác giả và tác phẩm rất khó vì số trang hạn chế, mỗi tác giả chỉ được vài chục dòng. Thường thì với tác giả còn sống, tôi đưa bản thảo ấy cho tác giả góp ý trước khi chuyển sang tiếng Pháp – Anh. Như vậy, bản in ra do tác giả tự giới thiệu. Về Tế Hanh như sau: Quê ở Bình Sơn - Quảng Ngãi. Ông nổi  tiếng trước Cách mạng 1945 do tập thơ Hoa Niên (1944). Từ 1945, thơ ông rộng mở và đi vào chiều sâu. Trong kháng chiến lần thứ nhất, ông hoạt động ở Liên khu V.
 
Lời thơ giản dị và đầy rung cảm của ông mang đến như ông tự nhận: một âm hưởng thân thương cho thi đàn Việt Nam (tôi không nhớ rõ là thân thương hay âu yếm, trìu mến…Tế Hanh dùng tiếng Pháp là tendresse). Từ tập kết ra Bắc, ông ca ngợi quê hương miền Nam và cuộc đấu tranh thống nhất đất nước trong các tập thơ Lòng miền Nam, Theo nhịp tháng ngày… Về Hoàng Trung Thông: Quê ở Nghệ An, ông nổi danh trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất với Thơ về đời sống người nông dân tham gia chiến đấu vì Tổ quốc. Đặc điểm thơ ông là tính cô đọng và gợi cảm ở các tập Đường chúng ta đi, Đầu sóng, Trong gió lửa…               

  Hữu Ngọc


Ý kiến của bạn