Nhân đi viếng người đã khuất

Văn hóa – Giải trí
Ngày 1 tháng 11 là ngày lễ các Thánh (Toussaint) của Công giáo, ngay sát ngày lễ các vong hồn. Ở phương Tây, lễ các vong hồn thường đúng lúc thời tiết lạnh,
Ngày 1 tháng 11 là ngày lễ các Thánh (Toussaint) của Công giáo, ngay sát ngày lễ các vong hồn. Ở phương Tây, lễ các vong hồn thường đúng lúc thời tiết lạnh, ảm đạm, hợp cõi chết, hợp với câu thơ Nguyễn Du: Lọt hơi sương lạnh buốt xương khô/Não người thay… Vì vậy, tiếng Pháp có thành ngữ un temps de Toussaint (thời tiết ngày lễ các Thánh) để chỉ tiết “Não người thay…”

Nhớ lại ngày Toussaint năm ấy, ở Paris, ngán cảnh nhộn nhịp phố phường, tôi tìm đến một nơi yên tĩnh là nghĩa địa Montparnasse, nghĩa địa lớn thứ ba của thủ đô Pháp. Nghĩa địa Montparnasse xây dựng từ năm 1824, chia làm hai khu, quây tường chung quanh, ngăn cách bởi một con đường. Mỗi khu có những lối ngang dọc, mộ xây như những khu phố có người sống. Tôi đang đi tìm mộ Sartre và Beauvoir thì gặp một người bảo vệ mặc đồng phục chỉ cho biết: mộ hình chữ nhật, xây đơn giản, trên hãy còn mấy bó hoa được đặt từ lễ các Thánh.

Tôi bâng khuâng vì tối thứ sáu trước, trên vô tuyến, nhà bình luận văn học Pivot vừa giới thiệu cuốn hồi ký mới xuất bản Người phụ nữ lén lút của một trong 5 nhân tình của Sartre, bà này là bạn tình của Sartre trong hai chục năm. Chuyện này khi bà Beauvoir còn sống hẳn cũng không lạ gì vì chính khi còn trẻ, để giữ được tự do, bà từ chối kết hôn với Sartre. Bà chỉ đồng ý với Sartre một số điều đã thỏa thuận.

Đến nay, hai “bạn đời” Sartre và Beauvoir nằm song song với nhau, yên nghỉ giấc ngàn thu, trong giấc mộng “hiện sinh chủ nghĩa”.

Sartre mất năm 1980. Từ khi ông qua đời, không có một nhà tư tưởng hay một nhà văn Pháp nào thay thế ông ở vị trí một bậc “sư phụ” được công  nhận, ông được ví như Voltaire của thế kỷ XVIII, Hugo của thế kỷ XIX. Ông được coi là người bảo vệ các thứ tự do, về mặt lý luận và thực tế, ông có uy tín trong giới trí thức Pháp, châu Âu, Mỹ và cả thế giới thứ ba.

Cuộc đời và sáng tác của Sartre minh họa cho chủ nghĩa hiện sinh mà ông chủ trương. Xuất thân từ một gia đình đại tư sản, ông đỗ đầu kỳ thi thạc sĩ triết học. Ông dạy ở tỉnh nhỏ trước khi đổi về Paris. Năm 1941, ông tham gia kháng chiến chống Đức. Từ 1945, ông viết văn và làm báo, sáng lập ra tạp chí Thời Mới (Les temps Modernes) năm 1945. Triết học hiện sinh của ông ghép hiện tượng học Đức Heidegger (Hai-đê-gơ) và của Husserl (Hu-xớc) với chủ nghĩa Marx. Ngoài những tác phẩm triết học thuần túy, ông trình bày triết học của mình bằng sáng tác văn học. Trong những cuốn tiểu thuyết Nôn mửa (La nausée, 1938), Những con đường của tự do (Les che-mins de la liberté, 1945-1949) và tập truyện Bức tường (le mur, 1939), ông nêu lên nhân sinh quan của mình: cá nhân con người đụng phải sự vô lý của luận triết học trong Hữu thể và Hư vô (L Être et le néant, 1943): “Hiện sinh có trước bản chất”, có nghĩa là bản chất của một người không có tính chất định mệnh, cuộc sống của mỗi người là một chuỗi quyết định “tự do” không do lý tính quyết định. Ông muốn cho triết học của mình một đạo lý nhân bản: con người phải “nhập cuộc” và “nhận trách nhiệm”. Khác với Camus, Sartre tán thành quan điểm duy vật lịch sử nhưng lại nhấn mạnh là tuy phát triển “trong lịch sử”, cá nhân con người vẫn có tự do quyết định và tầm vóc con người có thể ở ngoài lịch sử. Về chính trị, ông đứng về phe tả, nhưng không theo cộng sản, ông đi với tất cả các lực lượng tiến bộ, kể cả cộng sản trong một số vấn đề: kháng chiến chống Đức, hòa bình thế giới, chống chiến tranh thực dân Pháp và Mỹ ở Việt Nam…

Sartre cũng nổi tiếng về kịch: Xử kín (Huis Clos,1945) về số phận cô đơn của con người, Tay bẩn (Les mains sales, 1947); về xung đột giữa thực tế và lý tưởng chính trị: Con đĩ có lễ độ (La Putain respectueuse, 1946); về chính sách phân biệt chủng tộc Mỹ. Sartre còn viết cả phê bình văn học. Từ (Les mots, 1964) là tự truyện thời thơ ấu của ông. Năm 1964, Sartre từ chối không nhận Giải thưởng Nobel.

Năm 21 tuổi, Simone de Beauvoir (Xi-mo-nơ đơ Bô-voa) vừa đỗ thạc sĩ triết học sau khi đỗ cả toán đại cương. Bà gặp Sartre và rất phục ông. Họ thành “bạn đời” một cách “hiện sinh”. Năm 35 tuổi, bà thôi dạy học và đi vào con đường sáng tác với tác phẩm đầu Người khách đàn bà (L Invitées, 1943). Nhân vật chính là một thiếu nữ đoạn tuyệt với môi trường giai cấp tư sản của chính mình và cả thế giới. Tác phẩm Py-ruyx và Xi-ne-ax (Pyrrhus etCineas, 1944) minh họa các chủ đề chính của chủ nghĩa hiện sinh. Năm 1945, bà viết vở kịch Những cái miệng vô ích (Les Bouches inutiles) đồng thời hoàn thành cuốn tiểu thuyết Máu của người khác (Le sang des autres) đặt vấn đề tự do và trách nhiệm theo tinh thần triết học Sartre. Hai tác phẩm lớn nhất của bà là: 1- Giới thứ hai (Le Deuxième sexe, 1949) nghiên cứu về tình trạng và ý thức của người phụ nữ trong xã hội tư bản, bà cho là không có “bản chất phụ nữ”, giới tính nữ chẳng qua do phụ nữ bị lệ thuộc lâu tạo thành, lập luận của bà chưa thật vững chắc do bà chưa hiểu sâu sắc bản năng làm mẹ. 2- Các học phiệt (Les Mandarins, 1954) phản ánh sự việc trong nhóm hiện sinh và đặt vấn đề “nhập cuộc” của những người trí thức cánh tả không dứt khoát, tác phẩm này được giải thưởng Goncourt (Gông-cua). 

  Hữu Ngọc


Ý kiến của bạn