Nhà thuốc bệnh viện: Quá khứ và hiện tại?

Thời sự
Cùng với sự phát triển kinh tế và trong thời đại hội nhập của đất nước, hiện tình hình cung ứng thuốc chung và riêng cho người bệnh nằm viện nay đã khác. Sứ mệnh của nhà thuốc bệnh viện (NTBV) cũng có những thay đổi.

Kỳ II: Nhà thuốc bệnh viện - Sứ mệnh hôm nay?

Cùng với sự phát triển kinh tế và trong thời đại hội nhập của đất nước, hiện tình hình cung ứng thuốc chung và riêng cho người bệnh nằm viện nay đã khác. Sứ mệnh của nhà thuốc bệnh viện (NTBV) cũng có những thay đổi.

Việc duy trì NTBV (do bệnh viện tổ chức hay do công ty dược nhà nước đảm nhiệm) nằm trong khuôn viên bệnh viện, có mấy điều cần bàn:

 Quản lý tốt việc cung ứng thuốc người bệnh được hưởng lợi.
Thứ nhất là số người chưa có thẻ BHYT mua thuốc ngoại trú, mua thuốc lúc xuất viện tại bệnh viện không nhiều. Đơn thuốc nếu kê đúng, thì cũng không có quá nhiều loại thuốc, cũng chỉ là các thuốc thông thường, không bao gồm nhiều thuốc khó kiếm, dĩ nhiên cũng không nhiều tiền, không thể tạo ra doanh số lớn. Ngay trong thị trấn, thị xã, thành phố, thậm chí chỉ cách bệnh viện vài bước chân đã có nhiều nhà thuốc tư (NTT) quầy bán lẻ của các công ty dược (theo tính toán mỗi điểm bán lẻ chỉ phục vụ cho khoảng 1.500 người) đủ sức đáp ứng nhu cầu mua thuốc ngoại trú của người chưa có thẻ BHYT trên. Thêm nữa, các biệt dược chuyên khoa trước đây chỉ có thể mua ở NTBV thì ngày nay cũng không hiếm ở các NTT ngay trước cổng bệnh viện. Tùy theo nhu cầu của các thuốc thuộc diện khó kiếm này, tùy theo mức cần có để đối trọng với các NTT mà quyết định nên có NTBV hay không chứ không phải bệnh viện chuyên khoa thì nhất thiết phải có NTBV để bán thuốc chuyên khoa.

Thứ hai, gần đây một số người có nói nhà thuốc bệnh viện chiếm tỷ lệ khá cao trong doanh số bán lẻ trên thị trường. Điều đó có chắc đúng không? Nếu thực như vậy phải kiểm tra lại xem bệnh viện đã thực hiện đúng quy định "giám đốc bệnh viện có trách nhiệm bảo đảm đủ thuốc chữa bệnh theo danh mục thuốc chủ yếu sử dụng trong cơ sở khám chữa bệnh (KCB), không để người bệnh nội trú phải tự mua thuốc trong danh mục thuốc chủ yếu: như quy định của Luật dược vào 05/2004/CT-BYT chưa? Xin kiểm tra lại NTBV có bán thuốc cho bệnh nhân nội trú theo gợi ý của bác sĩ không? Kiểm tra lại cách kê đơn của thầy thuốc cho người bệnh ngoại trú, cho người bệnh xuất viện có đúng không, có điều nào chưa lành mạnh, kiểm tra lại danh mục và cách thực hiện tặng số bán lẻ, cách thực hiện các quy chế chuyên môn khác của NTBV đúng chưa? Chỉ sau khi có các kiểm tra và loại bỏ các yếu tố không đúng thì mới có kết luận được NTBV chiếm bao nhiêu phần trăm doanh số thị trường bán lẻ chứ không thể nhận định một cách thiếu cơ sở. Trong bối cảnh xã hội hóa việc cung ứng thuốc, liệu có nên gắn trách nhiệm này vào vai của bệnh viện là nơi chịu trách nhiệm KCB mà hiện nay trách nhiệm đó đang vô cùng khó khăn vì quá tải. Sao không gắn trách nhiệm này cho CTDNN, dù nay đã cổ phần hóa nhưng nhiều nơi nhà nước vẫn có vốn chi phối, mà họ lại có trách nhiệm và có chức năng kinh doanh?

Thứ ba, chức năng chính bệnh viện, trách nhiệm điều hành chính của giám đốc là KCB. Mở NTBV là làm thêm chức năng kinh doanh (dù có dùng từ khác như dịch vụ cung ứng, thì nội dung thực vẫn là kinh doanh). Nếu muốn có doanh số cao, có lãi, bệnh viện sẽ bị phân tâm, trong việc bảo đảm đủ và có chất lượng thuốc cho mọi đối tượng nội trú (và ngoại trú cho người có thẻ BHYT).

Thứ tư là, một số người được phân công trực tiếp làm nhiệm vụ kinh doanh khó tránh và có thể lặp lại những tiêu cực như nói trên. Những sai phạm ấy gây thiệt hại cho người bệnh, gây phương hại đến uy tín bệnh viện.

Thứ năm, NTBV không thể lấy kinh phí sự nghiệp, không thể lấy thuốc đấu thầu ra bán (đây là điều cấm trong 3106 QĐ-BYT và 24/2008 QĐ-BYT). NTBV phải lấy hàng sỉ từ nhiều nơi (không qua đấu thầu như thuốc nội viện). Dù có thực hiện đúng 100% quy định thặng số bán lẻ trong các QĐ trên, thì giá bán lẻ thuốc chắc chắn vẫn cao, chênh lệch so với giá cấp phát nội viện hay phòng khám (đã qua tổ chức đấu thầu, thường thấp hơn). Điều này gây thêm băn khoăn, thắc mắc, so sánh giữa những nhóm dân cư. Chưa nói, trong một số lần kiểm tra các sở y tế trước đây, Bộ Y tế đã phát hiện một số NTBV bán giá cao hơn giá trị thường.

NTBV dùng nhà, lương của bệnh viện hoạt động mà chi phí này không bao giờ tính vào kinh doanh, lãi thì không có phần nào nộp lại cho nhà nước, tức là mối quan hệ nhà nước - tập thể chưa tách bạch rõ ràng. Việc dùng lợi ích kinh doanh thuốc cải thiện đời sống CBNV cũng không được bao nhiêu (nếu tính tách bạch các chi phí nhà nước bỏ ra, nếu bán đúng thuốc cần, bán đúng thặng số bán lẻ, chia lãi một cách công bằng).

Thông thường y dược có mối quan hệ trong việc kê đơn - bán thuốc. Người ta tách việc kê đơn và bán thuốc ra thành hai chỗ tách bạch (không do một người làm, không do một người chịu trách nhiệm, không để trong một đơn vị). Ví dụ: không cho thầy thuốc kiêm việc bán thuốc, không cho NTT tự ý bán các thuốc thuộc danh mục bắt buộc phải kê đơn, không cho phòng khám (của tập thể thầy thuốc làm tư) kiêm việc bán thuốc trong phòng khám của mình. Sự tách bạch này nhằm tách bạch về lợi ích kinh tế, để có sự minh bạch trong hành nghề, tránh các móc nối không lành mạnh, bảo đảm hợp lý an toàn trong dùng thuốc. NTBV là nơi bán thuốc. Giám đốc bệnh viện, người vừa chịu trách nhiệm về khám chữa bệnh lại chịu trách nhiệm về nơi bán thuốc là không hợp lý. NTBV là nơi bán thuốc theo đơn của phòng khám bệnh viện của các bác sĩ khi cho người bệnh xuất viện là các nhóm CBCNV có cùng quyền lợi chung. Như vậy rất dễ phát sinh tiêu cực, nếu không kiểm soát tốt.  Trong hoàn cảnh thiếu thuốc như trước đây, thì có thể chấp nhận để bệnh viện thuận lợi trong việc thực thi nhiệm vụ KCB, nhưng trong hoàn cảnh đầy đủ thuốc như hiện nay liệu có nên tiếp tục đi theo hướng này không?

Thay lời kết

Trong quá trình phát triển, một vấn đề có khi giai đoạn này đúng là phù hợp, cần cổ vũ nhưng ở giai đoạn khác là chưa đúng, không phù hợp cần điều chỉnh cho hợp lý là việc bình thường và cần thiết. Ví dụ như năm 1989, cấm tư nhân, cấm dược sĩ bán thuốc mở NTT, sau năm 1989 cho tư nhân bán thuốc, cho dược sĩ mở NTT, văn bản cho phép qua nhiều lần chỉnh sửa mới hoàn thiện. Năm 1963 ban hành quy chế thuốc độc (bao gồm thuốc gây nghiện, hướng thần), được xem là quy chế cốt lõi của người hành nghề dược nay bỏ hẳn quy chế này, vì có quy chế kê đơn, quy chế quản lý thuốc gây nghiện thuốc hướng thần. Vì vậy, trước đây mở NTBV là phù hợp, nay có thể không phù hợp nữa, do tình hình thay đổi. Trên tinh thần trao đổi, chúng tôi hy vọng các đồng nghiệp có những ý kiến đóng góp thêm.

DS. Hà Thủy Phước


Ý kiến của bạn