Viêm tắc động mạch (VTĐM) có triệu chứng nổi bật là hoại tử vùng tổ chức do động mạch đó nuôi dưỡng. Bệnh thường gặp ở nam giới, chi dưới mắc bệnh nhiều nhất, nhưng cũng gặp ở chi trên, ruột, động mạch vành, động mạch não...
Các yếu tố nguy cơ gây VTĐM
Người ta cho rằng có nhiều yếu tố nguy cơ gây bệnh, đó là: nghiện thuốc lá, khí hậu lạnh và ẩm kéo dài, ăn uống thiếu các vitamin, căng thẳng về tâm sinh lý kéo dài... tác động lên thần kinh trung ương và hệ thần kinh giao cảm, gây ra các phản ứng co thắt ở động mạch. Do co thắt động mạch lâu ngày dẫn đến thiếu máu cục bộ và đau đớn vùng tổ chức do động mạch nuôi dưỡng. Các yếu tố này trở thành kích thích nội sinh tác động trở lại hệ thần kinh làm cho tình trạng co thắt động mạch càng nặng. Cuối cùng dẫn tới tắc hoàn toàn động mạch, vùng tổ chức liên quan thiếu máu nuôi dưỡng bị hoại tử gây đau đớn và nhiễm khuẩn, nhiễm độc.
Dấu hiệu phát hiện bệnh
![]() Tổn thương viêm tắc động mạch chân. |
Các xét nghiệm: đo dao động động mạch xác định được mức độ giảm biên độ dao động của động mạch bị viêm tắc ở chi tổn thương. Soi mao mạch: thấy giảm số lượng và đường kính các mao mạch ở vùng tổn thương, tốc độ di chuyển của hồng cầu trong mao mạch cũng bị giảm. Đo nhiệt độ da: thấy nhiệt độ da của chi bị tổn thương bị giảm đi rõ rệt so với bên lành. Siêu âm: thấy thành động mạch dày lên, có các cục nghẽn mạch... Chụp động mạch cản quang xác định được hình dạng và mức độ co thắt của các động mạch bị viêm tắc, hình các cục nghẽn mạch… Chụp cắt lớp và cộng hưởng từ xác định được các tổn thương VTĐM.
VTĐM cần phân biệt với một số bệnh: hoại tử đầu chi trong bệnh đái tháo đường: không có dấu hiệu “đi cách hồi”, vị trí bị hoại tử thường ở gan bàn chân, gót chân, xét nghiệm thấy đường máu tăng, có đường trong nước tiểu. Bệnh xơ vữa động mạch: tổn thương động mạch của toàn thân chứ không riêng chi dưới như bệnh VTĐM, có hoại tử vùng chi do xơ vữa động mạch nhưng thường xuất hiện ở người già, có tăng huyết áp, cholesterol máu cao... Bệnh Raynaud: hay gặp ở nữ giới, trẻ tuổi, tiến triển thành từng đợt, tổn thương chủ yếu là ở đầu chi và đối xứng cả hai bên.
Lưu ý trong điều trị và phòng bệnh
Điều trị VTĐM cần dùng các thuốc chống co thắt mạch máu, thuốc giảm đau kết hợp sử dụng vật lý trị liệu: chiếu sóng ngắn, xoa bóp... Cắt cụt chi bị VTĐM là biện pháp điều trị cuối cùng để chấm dứt đau đớn cho bệnh nhân do hoại tử chi.
Phòng bệnh cần thực hiện các biện pháp sau đây: tránh ở nơi lạnh, ẩm trong thời gian dài. Bỏ hút thuốc lào, thuốc lá. Tránh các căng thẳng về tâm sinh lý. Thực hiện chế độ ăn uống đầy đủ các chất và vitamin. Năng vận động để cho khí huyết lưu thông như tập thể dục, đi bộ, chơi các môn thể thao vừa sức.
ThS. Trần Quốc An
