Cứ 20/1 âm lịch hàng năm, chùa Bi (thuộc thị trấn Nam Giang, Nam Trực, Nam Định) lại tưng bừng mở hội. Người ta nô nức kéo nhau đến chùa dâng hương khấn Phật. Nhưng ít ai biết rằng, ẩn chứa bên trong ngôi chùa cổ kính này là một kho báu di sản văn hóa phi vật thể vô cùng đặc sắc. Đó là trò hát và múa rối hầu thánh trong nội tự - một trò diễn xướng dân gian độc đáo bậc nhất trong các trò rối cạn ở Việt Nam, có tên chữ là Ổi lỗi.
Màn kịch nghệ độc nhất vô nhị
Chùa Bi tên chữ là Đại Bi tự, được xây dựng từ đầu thời Lý, được Bộ Văn hóa cấp bằng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1984. Thông lệ, từ ngày 20 - 23 tháng Giêng, hội chùa Bi lại mở để tưởng nhớ công lao của thiền sư Từ Đạo Hạnh – theo truyền phả là ông tổ của nghệ thuật múa rối. Bởi vậy, trong hội chùa Bi, ngoài các nghi thức tế lễ, còn một phần không thể thiếu - cũng là phần linh thiêng và quan trọng nhất, đó là màn múa rối hầu thánh với ý nghĩa tạ ơn đức thánh Từ đã dạy dân làng biết diễn trò múa rối.
Trình diễn múa rối hầu thánh tại lễ hội chùa Bi. |
Mở đầu là màn diễn của đôi Lộng chúa mặt đỏ, quắc thước thể hiện vẻ chính nhân quân tử. Tiếp đến là đôi cóc vàng (trên đầu tượng có con cóc vàng) tượng trưng cho nền nông nghiệp lúa nước. Cuối cùng là đôi Lộng tỳ mặt trắng, mũi to, miệng rộng, biểu hiện sự no đủ; mùa màng tươi tốt, trời đất thuận hòa. Điểm chung của những điệu múa là uốn lượn theo hình sóng nước diễn tả lại cảnh 6 cái đầu quái dị trôi nổi trên mặt nước. Sau màn múa chầu thánh của 6 “ông Lộng” còn có màn diễn của 6 đầu tượng nhỏ hơn. Những tượng này đội mũ hoặc vấn tóc theo lối cổ, vẻ mặt rất tươi tỉnh. Ứng với mỗi màn diễn của một loại đầu tượng đều có các bài múa và hát kèm theo.
Nhạc cụ của buổi trình diễn là một bộ gõ gồm mõ tre, trống bảng, trống cơm, thanh la, trống cái, chuông đẩu... Có hai người hát, khi hát phải khoanh tay mà hát. Lời hát (hay còn gọi là kinh văn) của trò Ổi lỗi có tới 26 bài, 32 làn điệu rất phong phú và phức tạp, toàn bằng tiếng Nôm, đặt theo thể song thất lục bát hoặc lục bát. Âm nhạc, lời ca đều toát lên sự vui tươi, rộn rã. Nội dung chủ yếu là ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị và răn dạy đạo lý làm người.
Một kho báu cần được gìn giữ và phát huy
Ra đời sớm, bắt nguồn từ tín ngưỡng dân gian, trải qua bao thăng trầm lịch sử, trò diễn rối hầu thánh chùa Bi vẫn bền bỉ lưu truyền và trở thành một “món ăn tinh thần” đặc sắc, không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu giải trí, tâm linh của người dân địa phương mà còn là một trong những trò kịch nghệ dân gian đặc sắc, hấp dẫn du khách ưa tìm tòi và quý trọng vốn văn hóa truyền thống. Trong những năm qua, đã có nhiều cơ quan, tổ chức văn hóa về tham quan, nghiên cứu; một số cuộc tọa đàm, hội thảo về loại hình diễn xướng độc đáo này đã được tổ chức. Tuy nhiên, các biện pháp bảo tồn và phát huy vẫn còn bỏ ngỏ. Các vị chức sắc địa phương rất lo lắng khi rối hầu thánh chùa Bi đang đứng trước nguy cơ mai một.
Theo ông Trần Trọng Hưởng - Phó chủ tịch UBND phụ trách văn xã thị trấn Nam Giang, trước kia, cứ vào dịp tháng Giêng, trai tráng trong làng lại nô nức xin vào phường rối. Những buổi tối tập ở nhà trùm phường vui như mở hội. Tiếng mõ, tiếng hát rộn rã. Nhưng nay, trong phường chỉ còn lại các cụ cao niên tâm huyết với vốn cổ. Giải thích về việc rối đầu gỗ bị chính lớp trẻ trong làng quay lưng, ông Hưởng cho biết: “Bây giờ, thanh niên không còn mong hội như trước nên họ cũng không tha thiết vào phường rối nữa. Đã vậy, kinh phí hoạt động lại không có. Bởi vậy, việc động viên lớp trẻ tham gia là rất khó khăn. Chúng tôi rất lo cho “sự sống” đương đại và mai sau của di sản này”.
Còn một điều khiến rối đầu gỗ chùa Bi đứng trước nguy cơ thất truyền là những nghi lễ ngặt nghèo trong quá trình biểu diễn và âm nhạc, câu từ, hình thức rất khó học. Năm 2002, Viện Âm nhạc Việt Nam có cử đoàn nghiên cứu về để thu âm, thu hình toàn bộ trò diễn nhưng tất cả chỉ dừng lại ở nghiên cứu mà chưa đưa ra hướng bảo tồn và phát triển.
Nguy cơ mai một đối với múa rối hầu thánh chùa Bi đang hiện hữu. Vì vậy, rất cần sự quan tâm hơn nữa từ ngành văn hóa và chính quyền địa phương để các nghệ nhân không còn “đơn thương độc mã” trên con đường gìn giữ các vốn di sản văn hóa quý báu của dân tộc.
Bài và ảnh: Hồng Hạnh