Nguy cơ mắc bệnh màng trong ở trẻ sinh non

26-01-2026 10:03 | Bệnh trẻ em

SKĐS - Bệnh màng trong là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây suy hô hấp ở trẻ sinh non, đặc biệt ở những trẻ sinh trước 32 tuần tuổi. Bệnh xảy ra do phổi non nớt chưa sản xuất đủ surfactant - chất có vai trò giữ cho phế nang không bị xẹp, giúp trẻ hô hấp dễ dàng sau khi chào đời.

Suy hô hấp do bệnh màng trong ở trẻ sơ sinhSuy hô hấp do bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh

SKĐS - Hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh hay còn được gọi là bệnh màng trong. Đây là bệnh xảy ra khi phổi trẻ chưa phát triển đầy đủ hoặc do vấn đề về gen bẩm sinh, làm cho phổi trẻ thiếu một chất hoạt diện gọi là Surfactant, chất này giúp phổi trẻ nở tốt và đồng đều sau sinh.

Bệnh màng trong là bệnh lý phổ biến gây suy hô hấp nặng ở trẻ sơ sinh non tháng do thiếu hụt surfactant - chất có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt và duy trì tính ổn định của phế nang, ngăn ngừa hiện tượng xẹp phế nang ở cuối thì thở ra. Bệnh thường gặp ở trẻ non tháng, cân nặng lúc sinh thấp, trẻ sinh mổ, trẻ sinh ra từ mẹ bị đái tháo đường…

Ở người bình thường, trong phế nang có chứa một chất làm giảm sức căng bề mặt, giúp duy trì tính ổn định của phế nang, ngăn ngừa hiện tượng xẹp hẹp. Chất này được gọi là surfactant.

Từ tuần thai thứ 20, surfactant bắt đầu xuất hiện trong phổi bào thai và phủ lên vách trong của phế nang. Đến giai đoạn 28 - 36 tuần thai, surfactant có mặt trong nước ối với nồng độ ngày càng tăng.

Ở trẻ sinh non, phổi chưa trưởng thành, thiếu surfactant khiến các phế nang dễ bị xẹp. Huyết tương tràn vào phế nang, fibrin trong huyết tương lắng đọng bên trong, đồng thời các tiểu phế quản hình thành lớp màng cản trở sự lưu thông không khí và trao đổi oxy. Điều này làm khí CO₂ không được đào thải hiệu quả, dẫn đến suy hô hấp nặng và có thể gây tử vong nhanh.

Biểu hiện của bệnh màng trong

Bệnh thường xuất hiện sớm sau sinh, chỉ vài phút hoặc vài giờ sau sinh. Nếu không được điều trị tích cực, suy hô hấp sẽ tiến triển nặng trong vòng 48 giờ. Trường hợp bệnh nhẹ và được điều trị đúng, các triệu chứng có thể giảm dần sau khoảng 72 giờ.

Các biểu hiện thường gặp gồm:

  • Trẻ tím tái, thở nhanh, cánh mũi phập phồng, thở rên
  • Rút lõm liên sườn, hõm ức và dưới bờ sườn
  • Trẻ đang thở bình thường đột ngột xuất hiện suy hô hấp, nhịp thở > 60 lần/phút
  • Co kéo cơ hô hấp rõ: rút lõm lồng ngực, cánh mũi phập phồng
  • Rối loạn tim mạch: mạch nhanh > 120 chu kỳ/phút.

Trong trường hợp nặng, trẻ có biểu hiện tím tái tăng dần, khó thở nặng, tụt huyết áp, hạ thân nhiệt và có thể tử vong sau vài giờ. Ngay cả khi qua khỏi, bệnh vẫn có thể để lại nhiều di chứng nặng nề như: thiếu oxy não, xuất huyết não, hạ đường huyết…

Nguy cơ mắc bệnh màng trong ở trẻ sinh non- Ảnh 2.

Bệnh màng trong là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây suy hô hấp ở trẻ sinh non. Ảnh minh hoạ

Chẩn đoán bệnh màng trong

Để chẩn đoán, bác sĩ sẽ chỉ định các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết như:

Hình ảnh X-quang phổi gồm 4 giai đoạn:

  • Giai đoạn I: Hình ảnh lưới hạt nhỏ rải rác, phổi nở tốt
  • Giai đoạn II: Hình ảnh lưới hạt rải rác, khí phế quản đồ mức độ trung bình, giảm thể tích phổi
  • Giai đoạn III: Hình ảnh lưới hạt lan tỏa, xóa bờ tim, khí phế quản đồ nổi bật
  • Giai đoạn IV: Mờ trắng toàn bộ hai bên phổi (phổi trắng xóa).

Phòng ngừa và điều trị bệnh màng trong ở trẻ sinh non

Phòng ngừa

  • Sử dụng corticosteroid trước sinh cho sản phụ mang thai 23 - 34 tuần có nguy cơ sinh non. Thời gian dùng trước sinh tối thiểu 48 giờ để đạt hiệu quả.
  • Áp dụng CPAP giúp phổi không bị xẹp, giảm nguy cơ phải thở máy sớm cho trẻ non tháng.

Điều trị

Phương pháp điều trị đặc hiệu là bổ sung surfactant chủ động. Surfactant có thể có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, được đưa vào phổi qua đường nội khí quản. Hiệu quả điều trị cao nhất khi được thực hiện sớm, trước khi suy hô hấp tiến triển nặng.

Surfactant là chất quan trọng trên bề mặt bên trong túi phế nang, giúp duy trì sức căng bề mặt của phổi và đảm bảo chức năng hô hấp.

Các biện pháp điều trị hỗ trợ

  • Hỗ trợ hô hấp: Thở oxy ngay lập tức; thở máy khi suy hô hấp không đáp ứng
  • Điều chỉnh thăng bằng toan - kiềm: Duy trì pH máu ổn định
  • Ổn định thân nhiệt: Phòng ngừa hạ thân nhiệt
  • Bổ sung dinh dưỡng: Đảm bảo đủ năng lượng và dưỡng chất
  • Cân bằng điện giải: Hỗ trợ chức năng cơ thể và quá trình hồi phục.

Một thai kỳ khỏe mạnh trung bình kéo dài khoảng 40 tuần. Trẻ sinh ra từ 22 tuần đến trước 37 tuần được gọi là trẻ sinh non. So với trẻ sinh đủ tháng, trẻ sinh non có nhiều nguy cơ sức khỏe hơn.

Nguyên nhân sinh non thường gặp:

  • Mẹ chảy máu âm đạo

  • Bất thường tử cung, cổ tử cung

  • Thai đôi, thai ba hoặc đa thai

  • Nhiễm trùng tử cung hoặc các cơ quan khác
  • Sang chấn tâm lý trong thai kỳ

Nguy cơ đối với trẻ sinh non:

  • Ngắn hạn: suy hô hấp, hạ thân nhiệt, nhiễm trùng, vàng da, nhẹ cân, khó nuôi
  • Dài hạn: tăng nguy cơ khuyết tật phát triển, khiếm thị, khiếm thính

Tuổi thai càng nhỏ, nguy cơ càng cao, đặc biệt ở trẻ sinh trước 28 tuần.

Chuyển dạ sinh non được định nghĩa là tình trạng có cơn co tử cung đều đặn dẫn đến xóa mở cổ tử cung xảy ra trước khi thai nhi đạt 37 tuần tuổi thai.

Bệnh màng trong ở trẻ sơ sinhBệnh màng trong ở trẻ sơ sinh

Ở trẻ đẻ non khi phổi chưa thực sự trưởng thành chất giảm hoạt bề mặt sẽ chưa hoàn thiện. Khi thiếu chất này, phế nang sẽ bị xẹp, dẫn đến hiện tượng huyết tương tràn vào phế nang, chất fibrin của huyết tương lắng đọng phía trong của các phế nang và các tiểu phế quản, tạo thành một lớp màng.

BS. Nguyễn Thu Phương
Ý kiến của bạn