Gặp anh Vũ Trung Chính một đôi lần gì đó, trong thoáng qua, vội vã vì công việc. Vào tiết cuối thu đầu đông năm 2010, lại được Vũ Trung Chính tặng cuốn Việt Nam lịch sử diễn ca mà chính anh là tác giả, NXB Thanh niên ấn hành, tôi có thêm những dữ kiện để hiểu và quý trọng anh hơn.
Ông Vũ Trung Chính. |
Đến tuổi hưu, không có nhà cao cửa rộng ở thành phố, Vũ Trung Chính nhận giấy tờ rồi về ở thôn Đại Đê, xã Đại An, huyện Vụ Bản, Nam Định, nghĩa là trở về cố hương, nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Tài sản anh mang theo chẳng có gì đáng giá ngoài những cuốn sách. Sách kỹ thuật nông nghiệp, sách văn học, lại có cả sách sử học nữa. Không còn bị hối thúc về việc cơ quan, Vũ Trung Chính thảnh thơi, ngoắc mục kỉnh lên bắt đầu viết sử. Ngồi giữa ngôi làng hẻo lánh bên bờ sông Đào mà anh lại viết toàn chuyện quốc gia đại sự! Anh có lối thể hiện lịch sử khá độc đáo: viết bằng thơ, thể song thất lục bát. Chỉ trong vòng 200 trang sách, anh thâu tóm lịch sử từ thời Hùng Vương dựng nước cho tới tận ngày Giải phóng miền Nam 30/4/1975. Cô đọng thế nhưng người đọc vẫn không cảm thấy thiếu hụt, bởi Vũ Trung Chính biết chọn những gì là tinh túy, rường cột nhất của lịch sử để gieo vần thể hiện.
Chẳng hạn anh viết về việc Hồ Quý Ly sau khi soán ngôi nhà Trần, xưng đế rồi xây thành nhà Hồ ở Thanh Hóa:
...Ngai vàng nay đã về tay/Nhà Hồ gấp rút hoàn xây đô thành/Bao của cải quan quyền vơ vét/Dồn vào xây thành quách Tây đô/Lầu son gác tía nguy nga/Vào trong cung cấm bước ra sân rồng...
Hay là anh mô tả các danh sĩ chống Pháp dưới triều Nguyễn:
...Trương Công Định sáng ngời ý chí/Đánh đến cùng chẳng kể gian nguy/Mặc Vua hạ chiếu bắt về/Nhưng ông quyết chiến đến khi hơi tàn/Nguyễn Trung Trực lật chìm tàu Pháp/Rất hiên ngang khi sắp hành hình/Đinh Công Tráng với Ba Đình/Xây thành đắp lũy tung hoành bao phen...
Riêng phần chiến tranh chống Mỹ ở chiến trường miền Nam, Vũ Trung Chính viết rất sinh động, bởi bản thân anh đã là “một pho sử sống”. Tuy nhiên, người đọc sẽ không có cảm giác tiếc nuối, nếu như ở một số phần anh thể hiện những vấn đề nhạy cảm của lịch sử bằng cái nhìn mới mẻ hơn. Người đọc cũng có quyền hỏi tác giả: Ở triều Lê, một ông vua sáng như Lê Thánh Tông có công lớn canh tân đất được, làm nên một niên hiệu Hồng Đức võ công văn trị, vì sao trong Việt Nam lịch sử diễn ca lại không có một dòng nhắc đến?
Loại ra một vài hạn chế đó, thì có thể nói Việt Nam lịch sử diễn ca của Vũ Trung Chính là một ấn phẩm khiêm nhường nhưng có ích. Viết giản dị, bằng thơ, người đọc cảm nhận về sử bằng cảm xúc như thưởng thức thi ca, nhất là với những người dân nông thôn ít có điều kiện tiếp xúc với những pho sử đồ sộ thì cuốn sách của anh Vũ Trung Chính càng trở nên hữu dụng.
Hà Nội, mùa đông 2010
Lê Hoài Nam