Người trạm trưởng phía Tây rừng Yên Tử

Xã hội
Chị bảo rằng, chẳng biết từ khi nào, mình yêu mảnh đất này và bây giờ thì mãi gắn bó thôi, bắt đầu câu chuyện với tôi chị đã nói như vậy.

 Chị Hoàng Thị Tươi
Chị bảo rằng, chẳng biết từ khi nào, mình yêu mảnh đất này và bây giờ thì mãi gắn bó thôi, bắt đầu câu chuyện với tôi chị đã nói như vậy. Chị ấy là Tươi (Hoàng Thị Tươi), cái tên cũng mộc mạc giản dị như chính con người, nét mặt và nụ cười rạng rỡ của chị mỗi khi tiếp xúc với mọi người.

Mảnh đất mà chị đã gắn bó suốt một thời xuân sắc nằm ở một xã vùng cao của huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, nơi giáp với khu bảo tồn thiên nhiên tây Yên Tử. Con đường vào xã Tuấn Đạo, nơi chị Tươi làm việc, bây giờ đi lại đã thuận lợi rất nhiều so với trước đây, dẫu vậy, mà tôi vẫn thấy khúc khuỷu, gập ghềnh khó đi. Có như thế mới thấy hết được nỗ lực của nhân viên y tế thôn bản như chị trong sứ mệnh chăm sóc sức khỏe nhân dân. Vượt qua những cung đường với những trải nghiệm khác nhau, cuối cùng tôi cũng tìm đến được nơi chị làm việc. Chị bảo: “Vừa hay có cô về, tôi mới buông con dao đi rừng là chạy ra đây ngay, nhà gần trạm cũng có cái tiện cô ạ, ai gọi là chạy ra ngay, bất kể đêm hôm”. Tôi chợt thấy khuôn mặt còn nhem nhuốc mồ hôi song vẫn còn đó nụ cười ngự trị. Hai vợ chồng chị đều là cán bộ y tế nhưng vẫn mua thêm 6ha rừng để làm thêm những lúc rảnh rỗi, tăng thu nhập. Sinh ra và lớn lên ở Yên Dũng, sau khi tốt nghiệp trường trung cấp y tế Hà Bắc, chị về công tác tại Lâm trường II Sơn Động. Lên Sơn Động làm việc đối với một cô gái trẻ như chị là lòng dũng cảm và cả một quá trình bền bỉ vận động gia đình. Bố mẹ không muốn chị lên cái chốn “rừng thiêng nước độc” thân gái một mình, nhưng chị vẫn quyết tâm đi, bởi một điều giản dị “tuổi trẻ muốn đi cho biết đó biết đây mà nhất là vùng cao, vùng núi thì lại càng phải đi cho biết” và thế là chị đã  yêu mảnh đất này và nguyện mãi gắn bó với nó “chẳng biết từ khi nào, mình yêu mảnh đất này và bây giờ thì mãi gắn bó thôi”. Là cán bộ y tế duy nhất của nông trường có hàng trăm công nhân, ngoài việc chăm sóc sức khỏe cho mọi người, nhiều khi chị còn kiêm luôn “bảo mẫu”. Có người khuyên chị là cán bộ y tế sao không vào bệnh viện làm, nhưng chị lại suy nghĩ, đã là người thầy thuốc thì ở chỗ nào nhiệm vụ quan trọng nhất vẫn là chữa bệnh, cứu người. Và rồi, ước mơ được chữa bệnh cứu người của chị đã được rộng mở hơn khi trạm y tế xã Tuấn Đạo thiếu người cũng là lúc chị đang nghỉ không lương. Chị chuyển về trạm y tế vừa làm tuyên truyền viên dân số kế hoạch hóa gia đình, tuyên truyền viên phòng chống HIV/AIDS và tuyên truyền quan trọng nhất là làm sao thay đổi được tập tục lạc hậu đã gắn rễ trong bà con bao đời nay. Tuấn Đạo là xã vùng sâu, với đa số là gia đình khó khăn của huyện, địa bàn rộng với tổng diện tích hơn 70km2 và có tới 9 dân tộc anh em chung sống với không ít những tập tục lạc hậu ảnh hướng đến sức khỏe. Đến giờ chị vẫn không quên cái cảm giác khi mới về vùng heo hút này làm việc, vắng vẻ, thưa thớt, sương mù giăng mắc khắp nơi chẳng biết lúc nào là trưa lúc nào là sáng, chỉ khi nào bụng đói thì ăn. Lối sống của bà con thì lạc hậu, người dân không có thói quen đến trạm xá chữa bệnh, mọi việc đều tự xử lý bằng kinh nghiệm dân gian, bằng bài thuốc của ông lang vườn, chỉ khi nào bệnh nặng không thể cứu chữa được thi thoảng mới có người mang bệnh nhân đến trạm xá. Biết rõ ở gia đình này có người mang thai nhưng không thể nào khuyên họ đi khám thai định kỳ, biết rõ ra đình đó có trẻ con trong độ tuổi được đi tiêm chủng phòng bệnh cũng không sao vận động được. Họ không tin vào cái cô “áo trắng” kỳ quặc cứ lang thang hết bản này sang bản khác, nhà này sang nhà khác nhắc nhở phải ra trạm xá, đã không ít lần chị bị xua đuổi vì tội “gây rối”. Chị tâm sự, cái khó nhất của mình là tuyên truyền để bà con thực hiện đúng kế hoạch hoá gia đình. Người Kinh mình vẫn còn nặng nề việc có con trai nối dõi, nói gì đến đồng bào dân tộc với tập tục lạc hậu, việc mình đến khuyên nhủ không sinh thêm con nữa còn bị bà con đuổi như đuổi tà ma. Chị bảo điều làm chị đau lòng nhất đó là việc các bà mẹ tự sinh con tại nhà, tự đỡ, có người còn ra góc rừng tự sinh, sản phụ không được chăm sóc cẩn thận… nhiều cảnh thương tâm qua cách sinh con theo phong tục này đã làm chị day dứt và tự nhủ chẳng nhẽ đành bất lực?!. Nhưng lương tâm của người thầy thuốc đã thôi thúc chị phải tìm ra cách nào để chuyển biến suy nghĩ của mọi người. Chị xác định gắn bó với mảnh đất này, yêu mảnh đất này và quý mến bà con nơi đây nên hàng trăm khó khăn ở vùng cao với phương tiện truyền thông hạn chế đã thôi thúc chị mỗi ngày, gác lại việc nhà, con nhỏ để cần mẫn như con ong trèo đèo, lội suối lặn lội đi từng thôn, bản, đến từng nhà giải thích tìm hiểu, nghe họ dãi bầy thậm chí cả xua đuổi, và những lời lẽ khó nghe… Bằng tấm chân tình và trách nhiệm của một cán bộ y tế, những chuyển biến dần dần trong cộng đồng đã đến với chị. Các bà, các mẹ đã đưa con đi tiêm phòng đầy đủ, phụ nữ mang thai đến khám thai thường xuyên và sinh đẻ tại trạm, người dân tự nguyện đến trạm y tế khám khi ốm đau bệnh tật, hủ tục cúng, chữa bệnh bằng lá đã dần được xóa bỏ… Trạm y tế bây giờ đã là địa chỉ quen thuộc của bà con rồi, kể cả ngày nghỉ cũng có người đến khám, có khi chỉ là đến kiểm tra sức khoẻ định kỳ, hay lên xã có việc ghé vào để nói chuyện với cô “áo trắng” hay cười, tốt bụng. Vui nhất là đám trẻ chơi ngoài cổng trạm được bá Tươi khi thì cho cái kẹo, khi thì cho viên C…thấy người lạ đi cùng lại càng ra sức gọi bá, như để khẳng định mình rất thân thiết với bá vậy. Chị cười vui bây giờ chị còn được bà con đưa ra để “doạ” trẻ con lười ăn, lười học…

 Tư vấn chăm sóc sức khỏe cho đồng bào vùng cao.

Song, tất cả chỉ là sự bắt đầu của những khó khăn mà chỉ có những nhân viên y tế vùng cao như chị mới thấm thía. Chị nhớ, mới năm 2008, mùa lụt đến nước ngập cao, bản thân đang ở  trạm, con trai ở nhà gọi điện thông báo nước ngập hết lên nhà, nhưng chị không dám về, lòng như lửa đốt, một mình đứa con nhỏ với nước ngập ngang nhà, nhưng nếu có về thì vượt qua giòng lũ không phải dễ dàng, vả lại có ai đến cấp cứu sẽ phải làm thế nào? Cuối cùng chị quyết định gọi điện vỗ về và hướng dẫn con cách tránh lũ và cậu bé ngoan ngoãn đợi mẹ  thay ca trực trở về, sau khi lũ rút, gia đình chị phải mất 4 ngày dọn nhà còn vật dụng trong nhà thì hầu như phải sắm lại hết. Chỉ tay xuống dòng suối trước mặt bây giờ khô cằn trơ sỏi đá, chị bảo mùa này nó vậy thôi, chứ mùa lũ thì hung dữ vô cùng. Và, chị kể tiếp cho tôi nghe về kỷ niệm với dòng suối ấy, đây cũng là kỷ niệm không bao giờ quên trong cuộc đời làm nhân viên y tế vùng cao của chị. Đó là vào giữa mùa mưa lũ năm 1993, nước cuồn cuộn chảy, có hai thanh niên bơi từ bên kia suối hớt hải chạy sang gọi, “chị trưởng trạm y tế ơi, cứu tôi với, vợ tôi đau đẻ đã gần một ngày rồi, mà không đẻ được”. Nghe thấy vậy, chị liền chuẩn bị đồ đạc và chạy theo hai thanh niên, ra đến bờ suối, không nghĩ là mình biết bơi, chị cứ lội theo, đến chỗ nước sâu ngập đầu thì bị dòng lũ cuốn đi, may có hai thanh niên to khỏe dìu vào, thế là thoát chết. Sang đến nhà sản phụ, chị mau chóng bắt tay vào việc, sau một thời gian vất vả, cuối cùng một bé trai nặng 3,7kg đã chào đời giữa niềm vui sướng của gia đình và trong vòng tay bà đỡ mà quần áo hãy còn ướt sũng vì lội suối. Một kỷ niệm khác cũng ám ảnh chị đã nhiều năm, ấy là trong một làng ở rừng sâu, có cậu bé bị rắn cắn nhưng gia đình không đưa lên trạm y tế ngay mà đến nhà thầy lang đắp lá, từ sáng đến chiều bệnh tình vẫn không chuyển biến, lúc đó người nhà mới đưa đến trạm y tế, chị đã cho chuyển ngay lên tuyến trên và đi cùng. Nhưng đến nửa đường người nhà cậu bé nghe nói có ông lang đắp thuốc lá gần đây rất hiệu nghiệm, và họ nhất quyết đưa cậu bé vào bản đó,  mặc cho chị khuyên ngăn đủ điều cũng không được, thế rồi cậu bé ấy đã ra đi vĩnh viễn... Còn nhiều rất nhiều những câu chuyện nữa, nhưng với chị đây là hai kỷ niệm đã cho chị không ít những cung bậc cảm xúc, những suy nghĩ chiêm nghiệm khác nhau và không biết phải diễn tả thế nào. Phải chăng lúc chị quên mình không biết bơi để lội qua dòng suối đang mùa lũ với suy nghĩ duy nhất là cứu hai con người cũng là lúc ý thức về trách nhiệm của một người thầy thuốc “lương y như từ mẫu”, còn lúc biết cậu bé đang ở trong cơn nguy kịch nếu đến được bệnh viện tuyến trên sớm thì cơ hội sống sẽ còn, nhưng chị lại bất lực và đành nhìn cậu bé ra đi, đó không chỉ là nỗi đau mà còn là sự day dứt lương tâm của một người “từ mẫu” trước khoảnh khắc mong manh giữa sự sống và cái chết của một con người.

Không biết có phải lòng nhiệt tình của chị đã truyền lửa sang cậu con trai hay không, mà cậu thanh niên 22 tuổi Nguyễn Tuấn Sơn, sau khi tốt nghiệp Trung cấp Dược đã khước từ những nơi làm việc ở chốn phồn hoa đô thị để về làm nhân viên y tế xã như mẹ. Cậu bé làm ở Trạm y tế xã bên cạnh và còn nói với mẹ rằng “con sẽ không làm ở đâu cả, con sẽ về quê mình dẫu có nghèo, vất vả nhưng đây vẫn là quê hương của con”. Chị nói với tôi, đừng viết về chị nữa, hãy viết những cán bộ y tế khác ở các vùng đặc biệt khó khăn hơn, chị đã được nhiều phần thưởng xứng đáng rồi, chị được nhận Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Y tế, được nhận Giải thưởng học bổng Đặng Thùy Trâm do Báo Tuổi trẻ TP. Hồ Chí Minh trao tặng và nhiều phần thưởng của huyện, của tỉnh. Tôi hứa sẽ viết các cán bộ y tế khác, nhưng vẫn muốn viết về chị như một món quà tặng chị, bởi chị không chỉ mang nụ cười đến với người dân nơi đây mà còn tặng cho mảnh đất vùng cao một cán bộ y tế trẻ, yêu nghề, yêu quê hương, mong rằng ở nơi nào đó trên đất nước này cũng sẽ có nhiều những thanh niên khi học song trở về cống hiến cho quê hương như con chị. Chia tay chị cũng là lúc chị lại tất tưởi chạy đi với một bệnh nhân vừa đến trạm khám. Còn tôi ra về lại bắt đầu chinh phục con đường vòng quanh, uốn éo qua những dãy núi đồi trập trùng và tôi nghe thoảng bên tai mình như đang vang vọng câu hát trong một sáng tác của nhạc sĩ Trần Long Ẩn: “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai...”! 

Sơn Đông


Ý kiến của bạn