Dưới chân Tháp Bút, trước cổng đền Ngọc Sơn bên Hồ Gươm, Hà Nội có một ông lão tên Lê Văn Quý, SN 1940, đã hơn 50 năm trời miệt mài với nghề “bày tỏ tình yêu” cho những người yêu nhau mà không dám nói ra. Cạnh bên ông, hộp đồ nghề nhỏ như hộp đựng bút của học sinh, trong đó có mấy thứ đồ tự chế đơn giản: mấy cây bút lưỡi thép nhỏ mài nhọn cong cong, một cây bút chì và vài viên phấn màu xanh, đỏ, vàng… Rất nhiều chàng trai cô gái, cả xưa và nay yêu thầm ai đó, đem cây bút đến thuê ông khắc hộ để tặng người mình yêu nhằm bày tỏ tình cảm. Mà cũng nhờ những cây bút ông khắc, nhiều mối tình được thắp lên.
Chọn nghề lưu dấu thời gian
Cách đây hơn nửa thế kỷ, nghề khắc bút ở Hà thành còn thịnh hành, những chiếc máy khắc bút xuất hiện ở phố Hàng Gai và một số phố cổ, người xưa thích khắc bút làm kỷ niệm để tặng người yêu hoặc những chàng trai, cô gái đã thương thầm nhớ trộm ai đó mà chưa dám nói, đã nhờ cây bút nói hộ tình yêu là thế, nên nhiều cửa hàng, cửa hiệu khắc bút bằng máy mọc lên ở phố Hàng Bông, Hàng Gai… như một nghề trong phố cổ Hà Nội. Thời điểm ấy, cậu thanh niên Quý cũng yêu nghề khắc bút và nhận xét rằng, khắc bằng máy không đẹp, không tinh xảo bằng tay, nhất là so với chữ của ông thì càng không bằng. Thế là ông Quý mày mò học cách chuyển những vần chữ bay bướm của mình lên đồ vật bằng gỗ, nhựa... và cuối cùng là khắc trên bút. Thời đó, ở Hồ Gươm duy nhất có ông là khắc bút kỷ niệm cho khách bằng tay. Cũng không thể ngờ, khi xã hội không còn thiết tha với việc khắc bút làm kỷ niệm tặng nhau thì ông Quý vẫn miệt mài bảo tồn nghề “lưu dấu thời gian” hơn 50 năm nay.
Ông Quý hồi ức lại, cha mẹ vốn quê gốc ở Khoái Châu, Hưng Yên. Nhưng ông lại được sinh ra tại Hà Nội, hoàn cảnh khó khăn, cậu bé Quý phải dang dở học hành để phụ giúp bố mẹ nuôi các em ăn học. Mặc dù vậy, Qúy lại thể hiện niềm đam mê vẽ tranh ngay từ lúc lên 5 tuổi. Ông nói: “Ngày còn bé, ngôi nhà tranh nứa của tôi lúc nào cũng đầy những hình vẽ bằng than đen nhẻm, loang lổ khắp nhà nên tôi nhiều lần bị roi vọt của bố cũng vì cái tay hay vẽ”. Không ai nghĩ chính cái tài lẻ ấy cũng là cái nghiệp cả đời của ông sau này. Vì nhà nghèo lại không được học hành tử tế, không được học một cái nghề nhưng sẵn có chút tài mọn, không phải bỏ ra nhiều vốn lại giúp ông có thể thể hiện được niềm yêu thích của mình và quyết định chọn nghề khắc bút làm kế sinh nhai và cũng là mang đến chút niềm vui cho đời. Và ông bắt đầu khắc bút từ năm 21 tuổi, khi ông chưa... biết yêu. Đồ nghề của ông gồm chiếc bút khắc tự chế, tuốc-nơ-vít và vài chiếc bút mực, được gói gọn trong chiếc hộp sắt nhỏ bé. Khi xa gia đình đi nhập ngũ, tham gia kháng chiến thì nghề mới gián đoạn, nhưng khi về đến Hà Nội ông Quý lại chung thủy với nghề cũ, lại quấn quýt bên gốc đa già xù xì, trầm mặc như người bạn già lâu năm thân thiết. Vật đổi sao dời, người ta dần bỏ nghề vì chẳng kiếm được là bao, chỉ riêng ông vẫn theo đuổi, vẫn cần mẫn khắc những nét chữ bay bổng, mềm mại dưới những tán lá, những hốc bọng khổng lồ của gốc đa… Lấy được vợ cũng là nhờ cây bút đã tỏ tình hộ ông chứ có dám nói đâu. Đến nay, ông Quý vẫn làm cái nghề thanh đạm này dù biết nghề chỉ đủ sống là may. Chính bản thân vợ ông, bà Hoàng Thị Được cũng không lý giải nổi vì sao chồng mình lại có thể gắn bó với việc này suốt mấy chục năm mà không biết chán, song bà luôn ủng hộ ông.
Trong khi nhiều tiệm, nhiều người theo nghề này đã bỏ từ lâu thì bản thân ông Quý đến cuối cùng vẫn giữ được nghề cho đến tận bây giờ. Mặc dù chỉ vì yêu thích, chứ thực ra tiền khắc bút ông lấy 5.000đ, phức tạp hơn một chút ông lấy 10.000đ. Còn những chữ, những hình khó, phức tạp… giá dao động từ 15.000đ - 50.000đ. Cuộc sống của ông bây giờ đã khá giả, hai vợ chồng ông sống trong căn nhà đàng hoàng, lại được con cái chu cấp cho đầy đủ, nhiều người hỏi sao ông phải vất vả sớm hôm làm gì? Ông trả lời: “Khắc bút cũng là nét đẹp trong văn hóa Hà Nội một thời. Đây cũng là cái nghề cao quý, tôi muốn giữ lại một cái nghề của đất Thăng Long xưa”.
![]() |
Nhờ cây bút tìm được mộ chồng
Trong cuộc đời khắc bút của mình, ông Quý hạnh phúc nhất là giúp được người đời. Chuyện làm ông cảm động nhất là vào dịp tháng 8/2008, bà cụ là vợ một liệt sĩ ở Thái Bình tìm lên cảm ơn ông vì nhờ cây bút ông khắc cho bà năm xưa tặng một chiến sĩ vào chiến trường miền Nam mà gia đình bà đã tìm lại được mộ chí của liệt sĩ. Đó là bà Nguyễn Thị Hồng ở Kiến Xương, Thái Bình. Hồi đó, bà Hồng công tác ở cửa hàng thực phẩm ở chợ Đồng Xuân. Bà Hồng có quen anh bộ đội trong một chiều đi dạo Hồ Gươm, họ nói chuyện, cảm mến nhau nhưng chẳng dám nói, cho đến một lần chuẩn bị đi làm nhiệm vụ, anh bộ đội kiếm đâu ra cây bút có khắc tên anh và cô Hồng, món quà đặc biệt ấy đã khiến cô cảm động và hẹn ước. Hơn 1 năm sau, anh về phép và họ tổ chức cưới. Lại một đợt về phép khi Hồng sinh con cũng là lúc anh chuẩn bị vào trong miền Nam chiến đấu. Chẳng có gì quý giá cho chồng mang theo, bà Hồng ra hiệu sách, mua cuốn sổ, chiếc bút máy Hồng Hà và ra bờ hồ nhờ ông Quý khắc tên con trai và ngày tháng năm sinh, quê quán của con gói ghém cẩn thận cho chồng mang theo bên mình. Mãi sau này, khi có giấy báo tử, bà Hồng vẫn không biết chồng mình nằm ở đâu.
Cho đến tháng 7/2006, bà Hồng nhận ra mộ chồng mình nhờ vào cây bút có khắc tên con trai và ngày tháng năm sinh do đoàn quy tập mộ liệt sĩ thu được. Vào dịp năm 2008, bà lên thăm Thủ đô, đồng thời dò hỏi thì được biết người khắc bút năm xưa vẫn hành nghề ở vị trí cũ nên tìm ra cảm ơn. Bà Hồng còn kể trong nước mắt cho ông Quý biết rằng, nhờ cây bút ông khắc tên mà những ngày trong chiến trường ông viết thư về cho vợ con. Rồi đến lúc người ta phát hiện ra ông, chẳng còn gì để chứng minh thân nhân người nằm dưới cỏ, quần áo tư trang mục nát thành cát bụi, chỉ cây bút là còn, người ta phát hiện ra quê quán của liệt sĩ. Khi nghe câu chuyện của bà Hồng, ông Quý tự hào mình đã làm một việc đầy ý nghĩa.
Có bận, có người còn mang chiếc bút kim tinh cũ đến nhờ ông khắc lại, khi phát hiện ra dấu khắc cũ, ông cẩn thận bôi lớp phấn lên vết chữ cũ mới nhận ra chính là chữ mình khắc năm xưa mà vui đến trào nước mắt. Chẳng phải là tác phẩm nghệ thuật ghê gớm gì, vậy mà nhiều người vẫn coi như báu vật bên mình. Bây giờ hồi tưởng lại những kỷ niệm đó, ông kể rằng, những năm 60 của thế kỉ trước, khắc bút được xem là nghề thời thượng, bởi chiến tranh, loạn lạc người ta cần một món đồ, một dấu tích tặng nhau hay giữ lại. Trước khi ra chiến trường, những anh bộ đội trẻ thường mua bút để khắc chữ kỉ niệm, đề tên, quê quán, ngày tháng nhập ngũ… Khi chiến tranh kết thúc, người ta đi tìm đồng đội, nhiều ngôi mộ đã trở về với cát bụi, chỉ còn lại chiếc bút vẫn ghi dấu người nằm dưới lòng đất lạnh là ai thì sẽ tìm được. Còn đối với học sinh, sinh viên trước lúc chia tay trường lớp cũng khắc tên mình lên bút tặng bạn bè thầy cô.
Không chỉ khắc bút, ông có thể khắc lên tất cả đồ dùng hoặc tặng phẩm theo yêu cầu của khách như nhựa, gỗ, tranh sơn mài. Không chỉ khắc chữ, ông Quý còn có thể vẽ lên những hình ảnh khác như tháp Rùa, cầu Thê Húc... Dù khách hàng ngày càng thưa vắng, nhưng không phải ông Quý không có khách. Thay vì những anh bộ đội chuẩn bị nhập ngũ như ngày xưa, giờ khách hàng của ông là những người cựu chiến binh. Họ mua tranh sơn mài, mua bút nhờ ông khắc để tặng đồng đội, để mừng thọ nhau… Giới trẻ thì ít hơn, chỉ thi thoảng có những cô cậu sắp đi du học hoặc gửi quà tặng người yêu, bạn gái mới mua chiếc bật lửa hay vật dụng nào đó tới nhờ ông khắc chữ. Có những lúc du khách nước ngoài cũng đến nhờ ông khắc bút, khắc gỗ… để ghi dấu nền văn hóa Việt Nam mà họ ghé thăm. Với những vị khách trân trọng nền văn hóa tinh thần như thế, ông hì hục làm thật chuẩn, đẹp… như một tác phẩm nghệ thuật mà ông gửi tâm huyết, tấm lòng mình vào tín vật.
Ông Quý khắc bút bên Hồ Gươm. |
Nhân chứng của tình yêu
Với ông Quý, mỗi sản phẩm làm ra đều là một tác phẩm nghệ thuật thực thụ, nhất là làm kỷ vật, tín vật cho những người yêu nhau thì lại cần có năng khiếu nghệ thuật, có trí tưởng tượng của người nghệ sĩ, khéo tay, bay bổng và cũng phải kiên trì. Bởi có khi người ta yêu cầu khắc tên, ngày tháng năm sinh, ngày tháng gặp nhau và yêu nhau, cũng có người nhờ khắc tên hai người hay kỷ niệm ngày cưới. Và những lần khách đến đặt hàng, ông lại nghe được những câu chuyện tình cảm động từ phía chủ nhân của cây bút. Ông còn nhớ câu chuyện tình cảm động cách đây 5 năm, có một người thanh niên đến nhờ ông dạy khắc chữ với lý do yêu một cô gái cùng xóm, muốn tỏ tình đặc biệt, người thanh niên đó muốn tự khắc tên mình và tên người yêu lên cây bút để làm tín vật cầu hôn. Ông đồng ý dạy và người ấy viết cũng rất đẹp. Thế rồi anh thanh niên đã có được cô gái, họ đã cưới nhau. Thời gian sau, họ cũng thường xuyên qua lại thăm ông, vui lắm.
Ông Quý đang vui khi ký ức hiện về bỗng ông như chùng lại: “Mai này nghề khắc bút sẽ trôi vào dĩ vãng. Người ta đã quá quen với những món quà lưu niệm bóng bẩy. Chẳng mấy người còn nhớ, còn thích khắc bút kỉ niệm nữa”. Những lúc suy tư như thế, ông ngồi trầm ngâm bên ấm trà xanh, dăm ba câu chuyện với người bạn già gác cổng đền Bà Kiệu. Hai người bạn già lại nhớ đến hình ảnh ông đồ già của Vũ Đình Liên. Ông đồ già cũng một thời vàng son bán chữ đắt khách, rồi cũng một thời khách qua lại thưa thớt, mực đọng trong nghiên sầu… Nhưng dù sao, mấy năm gần đây, hoạt động thư pháp ở Việt Nam đã bắt đầu sôi động trở lại, ông đồ già năm xưa đã có thể mỉm cười. Còn nghề khắc bút của ông Quý hiếm, liệu có bao giờ đông đúc trở lại và có còn cô gái, chàng trai nào đến để nhờ ông “lưu dấu” tình yêu nữa không?
Bài và ảnh: Thành Văn
