Người mong... thất nghiệp

13-11-2009 11:06 | Xã hội
google news

Có thể gọi ông là người làm những nghề đặc biệt. Từ khi mới hơn 30 tuổi ông đã làm một cái nghề mà không ai dám nhận là làm “thủ hối” - đi khâm liệm và bốc mộ.

Có thể gọi ông là người làm những nghề đặc biệt. Từ khi mới hơn 30 tuổi ông đã làm một cái nghề mà không ai dám nhận là làm “thủ hối” - đi khâm liệm và bốc mộ. Đã trót mang tiếng vì cái nghề ghê người ấy rồi, giờ ông lại “kiêm” thêm việc đi gom nhặt và chôn cất cho những hài nhi xấu số bị bỏ đi. Nhưng mặc cho ai ghê sợ, ông và người hàng xóm “đồng nghiệp” vẫn thầm lặng làm cái việc không ai muốn ấy. Nỗi đau đớn và cắn rứt nhất trong ông không phải sợ miệng lưỡi người đời, mà là không được thất nghiệp để khỏi phải chứng kiến những cảnh đau lòng ấy...

Hai con người cùng một “nỗi đau”

Bắt đầu từ câu chuyện ở thị trấn Đông Bình, có bà H. rất giỏi đỡ đẻ và đặc biệt là khoản... phá thai.Bà H. trước vốn là bác sĩ khoa Sản của một bệnh viện huyện, nghỉ hưu, nay về mở trung tâm riêng. Chuyện các ca nạo phá thai qua tay bà H. có thể kể mấy ngày không hết. Không chỉ giới chị em trong xã mà cả những vùng xa như ở thị trấn Liễu Đề, có khi tận thành phố Nam Định cũng lặn lội về đây. Khách của bà mỗi người một hoàn cảnh, có người do tình yêu lỡ dở, có người do cuộc sống đẩy đưa, cũng có người do muốn kế hoạch hóa gia đình. Gần như ngày nào bà cũng có khách, họ cứ lặng lẽ đến, lặng lẽ đi và bỏ lại những thai nhi không được quyền sống để làm người. Những thai nhi ấy đa số được cho vào trong túi bóng màu đen, cứ thế mà vứt thẳng ra sông. Đã có thời gian người dân khu vực phải phát hoảng vì những túi ni lon đựng thai nhi xấu số ấy. Đáng sợ hơn, trong số đó có cả những thai nhi đã đầy đủ hình hài của những cô gái lỡ dở lén lút đi phá thai chui bỏ lại. Nhưng 3 năm gần đây, tình trạng này đã không còn, không phải vì người ta không nạo thai nữa, mà vì đã có những người đi gom nhặt và an táng cho những linh hồn bé nhỏ tội nghiệp ấy.

Ông Bao và một “tiểu hài nhi” sắp được chôn cất.

Ông Vũ Văn Bao ở thôn Quần Vinh (xã Nghĩa Thắng, Nghĩa Hưng, Nam Định), năm nay đã ngoài 60 tuổi. Đã 38 năm nay, nghề chính của ông là “thủ hối” (trông coi những người sắp qua đời, để cho người ta đến khi chết được bằng an và giúp gia đình mai táng). Ông gọi việc đi nhặt các hài nhi xấu số bị phá bỏ về chôn cất là “nghề tay trái”.

Gặp ông Bao ở nghĩa trang Quần Vinh, cạnh mảnh đất nhỏ mà ông xin được để làm khu mộ cho những thai nhi xấu số. Đó là một người đàn ông hiền từ, với khuôn mặt phúc hậu, râu tóc, chân mày đều một màu trắng bạc như cước. Ông tựa như dáng dấp của một ông tiên, chỉ khác là trong bộ quần áo của người trần mà thôi.

Giọng nói sang sảng, vừa lúi húi nhặt cỏ dại quanh mộ, ông Bao vừa chậm rãi: “Ngày trước người ta thường mang các cháu ra vứt dưới cầu Tiêu, ở một số khúc sông hay cống của thôn. Nghĩ cũng tội lắm. Thi hài của chúng không những trôi dạt khắp nơi mà còn bị tổn hại nữa. Vả lại, việc vứt bừa bãi thai nhi như thế rất gây ô nhiễm môi trường. Thế nên tôi làm việc này cũng là bình thường mà thôi. Điều đau đớn của tôi là chưa ngày nào tôi về tay trắng, ngày ít cũng một, hai cháu”.

Mỗi lần nhặt được thai nhi nào đó, ông cẩn thận ghi chép lại vào cuốn sổ cũ, đặt cho một cái tên với họ của ông, như Vũ Tam Hải, Vũ Tứ Hải... “Ghi lại như thế để sau này, có bà mẹ nào hối hận tìm đến thăm con, hoặc xin lại mình cũng dễ bề giúp đỡ”, tay lật những trang vở đã chi chít tên, số, ông Bao thổ lộ.

Thời gian đầu khi tìm nhặt thai nhi xấu số, việc tới lui các phòng khám tư khiến ông Bao nhiều lúc gặp trắc trở. Đồng lòng với ông, bà Phạm Thị Cường,  hàng xóm của ông Bao hằng ngày cần mẫn đạp xe đi mang thi hài các cháu về cho ông chôn cất. Đấy là một người phụ nữ đã 72 tuổi, mái tóc bạc như cước, làn da ngăm đen, cùng đôi mắt sâu, ngập tràn tình thương. Bà Cường vẫn còn nhớ rất rõ một buổi sáng sớm tháng            3/2006, hôm ấy như thường lệ, bà đi chợ bán rau, bỗng nhìn thấy một bọc nilông to vứt chỏng trơ ở bãi rác đang cựa quậy. Tò mò, bà nhặt lên và không khỏi bàng hoàng. Đấy là một thai nhi đã có hình hài, đang thoi thóp thở, thân thể của thai nhi kiến bu đầy, nhưng mắt thì vẫn mở nhìn chằm chằm. Bà đem nó về nhà, lau rửa sạch sẽ, xin sữa cho đứa bé ăn. Nhưng cũng chỉ được lúc sau, đứa bé tắt thở, con mắt ấy vẫn cứ trợn ngược nhìn bà vừa thiết tha, vừa căm phẫn. Ánh mắt ấy theo bà qua bao đêm, nó ảm ánh bà trong giấc ngủ. Không phải vì nỗi sợ hãi mà là niềm thương xót. Tại sao những thai nhi bé bỏng, chúng không có tội gì mà người ta lại vứt bỏ nó một cách tội nghiệp đến như vậy.

Từ lòng thương cảm đã thôi thúc bà quyết tâm làm một công việc, đó là đi góp nhặt những thai nhi bị bỏ rơi và không nơi nào nhiều bằng cơ sở nạo hút thai của bà H. Bà Cường đỡ lấy những hài nhi xấu số, làm lễ rửa tội cho chúng. Công việc mới này khiến bà mất rất nhiều thời gian, không chỉ ban ngày mà có những hôm từ mờ sáng, một mình với chiếc xe đạp cà tàng chạy đến trung tâm. Không quản  nắng mưa hay rét mướt, với bà chỉ cần đến kịp một ca nạo hút thai là cái tâm bà đã cảm thấy bình an lắm rồi.

Làm sao để... thất nghiệp?

Cứ chiều tối, tranh thủ trước lúc đi lễ nhà thờ hay lấy cớ đi thăm ruộng, ông Bao lại tìm đến các khúc sông, phát hiện mấy túi nilon trôi nổi, ông nhặt về. Hôm sau ông lại lặng lẽ làm lễ, chôn cất cho các “cháu” vào những cái tiểu (hay còn gọi là cái bát hương). Mỗi bát hương đều được ông đánh dấu thứ tự, kí hiệu cụ thể để lỡ may sau này, có ai đó tìm về thắp nén nhang cho con cái họ, còn biết được. Thế nhưng đã hai năm nay, người đi thì không trở lại, mỗi mình ông “chăm lo” chu đáo cho các hài nhi xấu số đó.

Bà Cường, “đồng nghiệp” cũng có chung nỗi đau với ông.

Vợ ông, bà Vũ Thị Hiên kể, ông Bao thường lân la hỏi xem những ai có ý định “vứt bỏ” thai nhi, để ông tìm cách ngăn cản, khuyên giải họ giữ lại, đừng phá đi. Đối với những người mẹ trẻ trót dại dột, hay những người gặp vấn đề bất ổn trong hôn nhân, mà đứa bé trong bụng mẹ lớn tới 7 – 8 tháng, ông “xin” lại đứa bé, hứa sẽ chăm sóc chu đáo cho cháu như con của mình. Nhưng dù ông có nói “hết nước hết cái” đi chăng nữa, họ cũng không chịu”.

Rồi bà nhớ lại những ngày đầu, chưa ai hiểu việc ông làm, kể cả gia đình vợ con. Đêm đêm, khi thôn xóm đã đi vào giấc ngủ, ông lại ôm các thai nhi ra cái nhà kho bỏ hoang trong làng, cho vào tiểu và trát xi măng lại kín mít, sạch sẽ. Mỗi cái tiểu như vậy, ông đựng được vài chục thai nhi nhỏ, còn thai nhi lớn, ông để trong tiểu lớn. Chưa có chỗ chôn cất, ông để tạm trong nhà kho. Rồi công việc lén lút của ông cũng “lòi ra”, chuyện ông Bao “râu bạc” hằng đêm lọ mọ ra nhà kho chăm sóc những thai nhi cũng đến tai mọi người. Người dân trong thôn sợ hãi, xua đuổi, ra mé làng cất giấu người ta cũng tìm thấy. Bí quá ông đem về nhà. Từ con, từ vợ ông trong nhà phản đối kịch liệt, ai lại đem cái của “nợ đời” ấy vào nhà bao giờ. Nhưng dần dần, cái sự phản đối ấy cũng nguôi ngoai vì mọi người đều nghĩ, đấy là một công việc nên làm, nhất là khi con cái trong nhà thấy cha luôn nghĩ tới công việc thiện. Khi gia đình đã bình an thì hàng xóm lại dần xa lánh, khách đến chơi nhà cũng thưa vắng dần vì họ sợ trong nhà ông nhiều âm khí, ra đường thấy ông họ thụt ngay vào ngõ. Họ không cho trẻ em lại gần ông vì sợ chúng bị sài, bị ghẻ.

Mặc cho thiên hạ xa lánh, xì xào ông vẫn làm cái việc mà theo ông phải làm. Ba năm miệt mài với công việc chẳng giống ai, rồi mọi người cũng dần hiểu, các sơ, cha xứ và người dân trong thôn đóng góp tiền cho ông mua tiểu, xây cho ông hai cái lăng mộ để chôn cất những hài nhi. Hai cái lăng đang xây dở nhưng cũng đã bỏ được năm lớp tiểu. Ông giở sổ nhẩm tính, gần 3 năm nay cũng đã chôn cất được hơn 2.400 thai nhi. Nhìn những con số cứ ngày một lớn lên ông không khỏi giật mình: “Khi chưa làm thì không biết, làm rồi mới thấy sao thiên hạ có những người nhẫn tâm đến thế”. Thiên hạ nhẫn tâm, nhưng ông không phải là người vô tâm.

 Ông luôn trăn trở, trằn trọc nghĩ xem có cách nào làm giảm số lượng đó không. Nhưng ông thấy bất lực quá. Vuốt chòm râu trắng muốt, đôi lông mày rậm hướng về xa xăm: “Tôi chỉ mong mọi người biết đến tôi không phải với cái danh đi nhặt nhạnh thi hài các cháu, mà họ biết đến tôi để cho họ đừng có bỏ đi giọt máu đỏ của mình. Giờ tôi chỉ mong được thất nghiệp thôi”.

Đến nay, quyển sổ đã gần phải thay  mới, thì ông càng đau đáu khôn nguôi. “Tên các cháu càng ngày càng kín sổ thì tôi càng xót xa. Tôi tự hỏi, sao có nhiều người bỏ đi giọt máu của mình một cách vô tình như thế. Tang thương lắm”.

Thỉnh thoảng trong đêm, ông vẫn ngồi tâm sự với những thai nhi được ông khâm liệm một cách cẩn thận trong tiểu. Ông bảo: “Nhiều lúc cũng nên nói chuyện cho các cháu đỡ cô quả, vì trên đời vẫn còn nhiều người quan tâm đến chúng”.

Vĩ Danh


Ý kiến của bạn