Rẽ hướng để đi vào điều khó nhất
Hơn 22 năm gắn bó với Bệnh viện K, PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền hiện là Trưởng khoa Nội 6. Chị đồng thời giữ vai trò Phó Trưởng Bộ môn Ung thư – Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam và giảng viên kiêm nhiệm Bộ môn Ung thư, Đại học Y Hà Nội. Phần lớn hành trình nghề nghiệp của chị dành cho bệnh nhân ung thư nữ, những người mẹ, người vợ, những cô gái đang ở độ tuổi đẹp nhất của đời người.
Ở nơi mà một chẩn đoán có thể khiến cả gia đình chao đảo, chị không chỉ đưa ra phác đồ điều trị. Chị chọn ở lại, đồng hành cùng bệnh nhân qua những đợt hóa trị kiệt sức, những lần tái khám đầy thấp thỏm, cả những khoảnh khắc yếu lòng nhất. Với chị, ung thư không phải dấu chấm hết, mà là hành trình buộc con người học cách chiến đấu để được sống tiếp.
Ít ai biết rằng trước khi trở thành bác sĩ nội khoa ung thư, PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền từng là học sinh chuyên Lý của Trường THPT chuyên Lam Sơn (Thanh Hóa). Quyết định chọn học y vì thế từng khiến nhiều người bất ngờ.

PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền vinh dự dược nhận bằng tốt nghiệp bác sĩ y khoa loại giỏi vào năm 2002. Ảnh: NVCC.
“Tôi không được định hướng từ nhỏ. Chỉ là khi nghe những câu chuyện về bệnh tật xung quanh, tôi mới thấy mình muốn hiểu sâu hơn, muốn làm điều gì đó có ích cho người khác”, bác sĩ Huyền nhớ lại.
Khi đang học lớp 11 chuyên Lý, cô nữ sinh nhỏ nhắn Phùng Thị Huyền bất ngờ rẽ ngang. Cô tự xin đi học thêm môn sinh học để chuyển hướng thi khối B. Khi đó, lớp học thêm cuối cùng đã bắt đầu trước hai tháng. Muốn theo kịp, cô phải học bù liên tục, tự mày mò từng chuyên đề, lấp đầy những khoảng trống kiến thức bằng sự kiên trì.
Những buổi tối đèn bàn sáng đến khuya, những trang vở kín chữ, những lần hoang mang tự hỏi mình có đang đi sai đường,… Tất cả trở thành nền móng cho một bước ngoặt quan trọng. Năm đó, Phùng Thị Huyền đạt giải 3 quốc gia môn Sinh học.
Thành tích ấy giúp chị được tuyển thẳng vào Đại học Y Hà Nội. Cánh cửa y khoa mở ra không ồn ào, không kịch tính, nhưng đủ để định hình toàn bộ cuộc đời phía trước.
Từ một cô học sinh chuyên Lý rẽ hướng sang Sinh học, từ một quyết định tưởng chừng liều lĩnh ở tuổi 17, hành trình của một nữ bác sĩ ung bướu bắt đầu lặng lẽ nhưng đầy bản lĩnh.
Quyết định gắn với ung thư – một lựa chọn có ý thức
Tốt nghiệp đại học với tấm bằng loại giỏi năm 2002, khi nhiều bạn bè lựa chọn những chuyên ngành “an toàn” hơn, bác sĩ Phùng Thị Huyền lại bị hút về phía một lĩnh vực còn nhiều khoảng trống – ung thư học. Thời điểm ấy, chuyên ngành này ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn đầu phát triển, thiếu thốn đủ bề, từ nhân lực đến phương tiện điều trị. Nhưng chính sự gian nan ấy lại khiến chị trăn trở.
Người gieo vào chị hạt mầm quyết tâm là thầy giáo chủ nhiệm khối. Thầy nói với chị một câu ngắn gọn: “Ung thư rất khó, nhưng ở Việt Nam mới bắt đầu và có cơ hội phát triển. Rất cần những người có năng lực như em”.
Câu nói ấy không phải lời hứa hẹn về danh tiếng, cũng không vẽ ra con đường trải hoa hồng. Nó giống như một lời nhắc, đó là nếu đã đủ dũng cảm, hãy chọn điều khó nhất. Và chị đã chọn.
Chị thi bác sĩ nội trú chuyên ngành ung thư, đỗ khóa 27. Sau 6 năm đại học, 1 năm định hướng và 3 năm nội trú – gần một thập kỷ miệt mài học tập, đầu năm 2007, chị tốt nghiệp. Cũng từ đó, chị bước vào hành trình dài tại Bệnh viện K, nơi chị gắn bó đến hôm nay chưa từng rời xa.

PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền thăm khám cho bệnh nhân ung thư vú. Ảnh: Quỳnh Mai.
Ngày ấy, trong chuyên ngành ung thư, bác sĩ nội trú sau khi tốt nghiệp được lựa chọn theo ba hướng: ngoại khoa, xạ trị và nội khoa. Ngoại khoa là những ca mổ căng thẳng trong phòng phẫu thuật. Xạ trị là cuộc chiến với máy móc và kỹ thuật. Còn nội khoa là điều trị bằng thuốc, là hành trình âm thầm nhưng dai dẳng, nơi bác sĩ phải theo bệnh nhân suốt nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Sau nhiều đêm suy nghĩ, chị đã chọn nội khoa.
“Chọn nội khoa nghĩa là chấp nhận đi cùng bệnh nhân lâu dài, gặp lại họ nhiều lần trong phòng khám, trong những lần tái phát, trong cả những khoảnh khắc bệnh nhân yếu đuối nhất”, PGS. Huyền nói.
Năm 2007, khi chị bắt đầu công tác, bệnh viện khi đó chỉ có một khoa hóa chất điều trị chung cho tất cả các loại ung thư. Mãi đến năm 2015, các chuyên khoa mới được tách riêng. Chị được phân về Khoa Nội 2 (nay là Khoa nội 6) – chuyên điều trị ung thư vú và các bệnh ung thư phụ khoa. Từ thời điểm ấy, cuộc đời nghề nghiệp của chị gắn chặt với phụ nữ mang án ung thư.
Tại khoa của chị, ung thư vú chiếm khoảng 70% số ca điều trị, 15% là ung thư cổ tử cung, 15% còn lại là ung thư buồng trứng và các bệnh lý khác. Nhưng với chị, đó không chỉ là những con số thống kê khô khan. Đằng sau mỗi con số là một mái ấm, một đứa trẻ, một gia đình đang chờ người mẹ trở về.
“Ung thư vú có tỷ lệ mắc mới cao nhất ở phụ nữ. Và đặc biệt, bệnh có thể tái phát. Mỗi lần tái phát lại là một cú sốc mới, như thể người ta vừa gượng dậy thì lại bị kéo xuống”, PGS Huyền trầm ngâm.
PGS Huyền cho hay, có những tuần, chị tiếp nhận liên tiếp ba bệnh nhân 24, 27, 28 tuổi đều mắc ung thư vú. Còn trường hợp trẻ nhất mắc ung thư vú chị từng điều trị là một phụ nữ mới chỉ 19 tuổi.
“Mỗi lần nhìn bệnh nhân trẻ, tôi thấy rất thương,” chị nói, giọng chùng xuống rồi tiếp lời: “Ở tuổi ấy, các em còn chưa kịp nghĩ đến chuyện làm mẹ, chưa kịp sống trọn thanh xuân. Thế nhưng đã phải đối diện với những câu hỏi quá lớn: có còn giữ được tuyến vú không? Sau này có thể sinh con không? Liệu mình còn sống được bao lâu?...”.
PGS Huyền nhớ lại, có lần, một bệnh nhân nữ rất trẻ ngồi trước mặt chị, tay nắm chặt điện thoại, sợ phải gọi về cho mẹ báo tin. Còn có người vừa nghe chẩn đoán xong đã bật khóc, nước mắt rơi không thành tiếng. Có người lại cố tỏ ra bình thản, chỉ hỏi rất khẽ: “Sau này em còn lấy chồng được không bác sĩ?” hay “em còn có thể sống được bao lâu?”.
Và cũng từ những cuộc gặp như thế, PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền hiểu rằng, điều mình đang làm không chỉ là chữa bệnh, mà đó còn là giữ lại cho người phụ nữ cơ hội được sống tiếp vai trò của mình – làm con, làm vợ, làm mẹ, sau khi đi qua một trong những thử thách khắc nghiệt nhất của cuộc đời.
Điều trị ung thư chưa bao giờ chỉ là kê một toa thuốc
Theo PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền, điều trị ung thư chưa bao giờ chỉ là kê một toa thuốc hay lựa chọn một phác đồ. Trước khi bắt đầu bất cứ liệu trình nào, bác sĩ phải ngồi xuống thật lâu với bệnh nhân. Sau khi xem kỹ từng kết quả xét nghiệm, từng chỉ số, từng hình ảnh chẩn đoán, bác sĩ phải giải thích rõ ràng: họ đang mắc bệnh gì, ở giai đoạn nào, yếu tố tiên lượng ra sao, cơ hội điều trị đến đâu, thời gian kéo dài bao lâu và cả những chi phí họ sẽ phải chuẩn bị.
“Nhưng nói như thế nào còn quan trọng hơn nói điều gì, khi một người vừa nhận chẩn đoán ung thư, họ không còn nghe bằng lý trí nữa, mà nghe bằng nỗi sợ. Đặc biệt với phụ nữ, cú sốc ấy thường nhân lên nhiều lần. Họ không chỉ lo cho chính mình. Họ lo cho đứa con còn đang đi học, lo cho mái nhà mình đang vun vén, lo cho người chồng có thể sẽ phải một mình gánh vác tất cả nếu điều xấu nhất xảy ra.
Có người chưa kịp ngồi xuống ghế tư vấn đã òa khóc giữa hành lang bệnh viện. Có người lại ngồi rất thẳng lưng, gật đầu bình tĩnh đến mức khiến bác sĩ như tôi phải tự hỏi sự mạnh mẽ này là thật, hay chỉ là lớp vỏ để không làm người thân thêm hoảng loạn?”, PGS Huyền cho hay.
Với PGS Huyền, trong những khoảnh khắc ấy, bác sĩ không chỉ là người cung cấp thông tin y khoa, mà còn phải phải trở thành điểm tựa tinh thần. Nếu lời nói quá lạnh lùng, bệnh nhân có thể sụp đổ. Nếu quá mơ hồ, họ sẽ mất phương hướng. Nếu quá bi quan, họ có thể từ bỏ điều trị. Nhưng nếu hứa hẹn điều không có cơ sở, họ sẽ chủ quan hoặc đặt niềm tin sai chỗ.
Vì vậy, chị luôn lựa chọn sự minh bạch nhưng không tước đi hy vọng. Chị nói thật, nhưng nói bằng giọng của một người đồng hành. Mỗi buổi tư vấn, chị thường kết thúc bằng một câu hỏi quen thuộc: “Chị còn điều gì muốn hỏi nữa không?”. Nhiều bệnh nhân lắc đầu vì quá rối bời. Chị không thúc ép. Chị bảo họ về nhà, nghĩ kỹ, viết ra tất cả những điều còn băn khoăn. “Lần sau quay lại, tôi sẽ trả lời từng câu một”, chị nói với bệnh nhân bằng giọng nói bình thản nhất.
Với chị, đó không chỉ là một thủ tục chuyên môn. Đó là cách để bệnh nhân hiểu rằng họ không đơn độc trong hành trình này. Rằng phía sau chẩn đoán khắc nghiệt kia vẫn còn một con đường. Và trên con đường ấy, có người sẵn sàng đi cùng họ, từng bước một.

PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền trò chuyện với bệnh nhân ung thư vú. Ảnh: Quỳnh Mai.
Những người phụ nữ trở lại từ lằn ranh sinh tử
Trong ký ức của PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền có rất nhiều gương mặt. Có những gương mặt chị chỉ gặp một lần. Có những gương mặt trở lại suốt mười mấy năm, như người thân quen trong hành trình dài của bệnh viện. Nhưng có một người phụ nữ chị vẫn nhớ rất rõ, bởi hành trình của chị ấy giống như một phép màu được viết bằng nước mắt.
Đó là một bệnh nhân 34 tuổi, phát hiện ung thư vú ở giai đoạn 3. Khi nhận chẩn đoán, cả gia đình như sụp xuống. Người phụ nữ ấy còn trẻ, còn con nhỏ, còn bao dự định chưa kịp thực hiện. Họ quyết định sang Singapore phẫu thuật với hy vọng tìm được cơ hội tốt nhất. Sau mổ, chị trở về Việt Nam tiếp tục hóa chất, thuốc đích, thuốc nội tiết. Những tháng ngày điều trị kéo dài trong mệt mỏi, rụng tóc, buồn nôn và cả những đêm mất ngủ. Tưởng như mọi thứ đã dần ổn định thì năm 2012, bệnh tái phát.
Lần tái phát ấy không chỉ là cú sốc, mà là cú đánh gục cả kinh tế của gia đình. Chồng chị mắc viêm đa khớp nặng, phải ngồi xe lăn, không còn khả năng lao động. Con còn nhỏ. Tiền tích cóp sau nhiều năm điều trị gần như cạn kiệt.
“Có lần người phụ nữ ấy nói với tôi: “Nếu em tiếp tục điều trị, con em sẽ không còn tiền học. Em không biết mình nên làm mẹ trước hay làm bệnh nhân trước… Câu nói ấy khiến tôi lặng đi… Rồi bạn bè của chị đã cùng nhau góp vốn vào một công ty vận tải nhỏ, tạo ra khoản thu nhập khoảng 15 triệu đồng mỗi tháng để chị có thể tiếp tục thuốc men. Đó không chỉ là sự hỗ trợ tài chính, mà là một cách níu giữ sự sống.
Hơn 13 năm trôi qua kể từ lần tái phát ấy, người phụ nữ năm nào vẫn may mắn được sống khỏe mạnh, vẫn có thể cười khi tái khám. Ung thư đã là điều không ai mong muốn, nhưng nếu không may mắc bệnh, hãy cho mình cơ hội được sinh ra lần thứ hai”, bác sĩ Huyền nói.
Với chị “lần sinh ra thứ hai” không phải phép màu. Đó là kết quả của y học, của sự kiên trì và của niềm tin không bị bỏ rơi giữa chừng.
Chị cũng nhớ một bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn cuối, bước vào phòng khám và hỏi thẳng: “Tôi còn sống được bao lâu nữa?”. Với chị, đó luôn là một trong những câu hỏi khó nhất của nghề. Không thể né tránh, không thể nói dối, nhưng cũng không thể dập tắt hy vọng.
Khi đó chị đã trả lời rằng: “Dựa trên nghiên cứu và phác đồ điều trị khi đó, trung bình bệnh nhân ung mắc ung thư ở giai đoạn này sẽ sống được 11 tháng, ít nhất là 3 tháng và dài nhất là 60 tháng. Tôi mong chị sẽ là người đạt 60 tháng”. Và thật may mắn, người phụ nữ ấy sống được 62 tháng.
Theo bác sĩ Huyền, trong ung thư, thêm một tháng sống không phải là con số nhỏ. Đó có thể là một mùa xuân kịp đi qua, một lễ tốt nghiệp của con, một sinh nhật được tổ chức trọn vẹn. Với bác sĩ, mỗi tháng sống thêm là một chiến thắng lặng lẽ.
Những tiến bộ vượt bậc của y học
Bác sĩ Huyền cũng chia sẻ, trong suốt 22 năm làm nghề, một trong những điều khiến chị được an ủi nhiều nhất chính là sự tiến bộ của y học.
Trước đây, phần lớn phụ nữ mắc ung thư vú phải cắt bỏ toàn bộ tuyến vú. Nỗi đau không chỉ nằm ở vết mổ, mà còn ở sự mất mát về hình thể, về cảm giác nữ tính. Nhiều người sau phẫu thuật không dám soi gương.

PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền trong buổi lễ bổ nhiệm chức danh Phó Giáo sư. Ảnh: NVCC.
Ngày nay, với các chỉ định phù hợp, nhiều bệnh nhân có thể được phẫu thuật bảo tồn tuyến vú, sau đó kết hợp xạ trị. Nếu không thể bảo tồn, bác sĩ có thể tạo hình bằng vạt cơ lưng, vạt bụng hoặc đặt túi. Người phụ nữ sau điều trị vẫn có thể giữ lại hình thể tương đối nguyên vẹn, giữ lại sự tự tin khi trở về cuộc sống.
Hay trước kia, vét hạch nách thường để lại di chứng phù tay nặng nề - cánh tay sưng to, nặng trĩu suốt đời. Nay kỹ thuật sinh thiết hạch cửa giúp hạn chế can thiệp không cần thiết, giảm đáng kể biến chứng.
Còn về thuốc điều trị, từ chỗ chỉ có hóa chất và nội tiết, nay y học có thêm thuốc đích, thuốc miễn dịch. Mỗi bệnh nhân ung thư vú sẽ có đặc điểm riêng, nên phác đồ phải được cá thể hóa. Và quan trọng nhất, nếu phát hiện ở giai đoạn 0-1, ung thư vú ngày nay có thể điều trị khỏi hoàn toàn 100%.
Chính vì vậy, suốt nhiều năm nay, PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền luôn nhấn mạnh một điều với phụ nữ, đừng đợi đến khi có triệu chứng rõ ràng mới đi khám. Tầm soát sớm không chỉ giúp tăng cơ hội sống, mà còn giúp giữ lại hình thể, giữ lại chất lượng cuộc sống và giữ lại cả tương lai phía trước.
Bởi hơn ai hết, chị hiểu rằng đằng sau mỗi người phụ nữ mắc ung thư không chỉ là một bệnh nhân. Đó là trung tâm của một gia đình. Và khi giữ được họ ở lại với cuộc đời, nghĩa là giữ được cả một mái ấm.
Người thầy của thế hệ mai sau
Năm 2012, khi đã có nhiều năm kinh nghiệm lâm sàng và đứng trước không ít ca bệnh nặng, bác sĩ Phùng Thị Huyền quyết định tiếp tục bước thêm một chặng đường học thuật. Chị làm nghiên cứu sinh, miệt mài giữa bệnh án ban ngày và tài liệu khoa học ban đêm. Năm 2016, chị bảo vệ thành công luận án tiến sĩ và năm 2023 được công nhận đạt chuẩn chức danh Phó Giáo sư.
Với chị, học không phải để có thêm một học vị, mà để có thêm cơ hội điều trị tốt hơn cho bệnh nhân, đặc biệt là những người phụ nữ đang đặt cả niềm tin và tương lai của mình vào từng quyết định chuyên môn.
Hiện nay, ngoài chức vụ Trưởng khoa Nội 6 của Bệnh viện K Trung ương, chị còn là giảng viên kiêm nhiệm Bộ môn Ung thư của Đại học Y Hà Nội và giữ vai trò Phó trưởng Bộ môn Ung thư tại Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam. Trên bục giảng, chị không chỉ dạy về các phương pháp chẩn đoán, phác đồ điều trị, cơ chế tác dụng của thuốc mà chị nhấn mạnh nhiều hơn cả là thái độ làm nghề.
Chị thường nói với sinh viên: “Nếu đã chọn ngành này, phải thật sự yêu nó và phải làm vì mình, vì người bệnh. Với nhiều bệnh khác, sai có thể sửa, có thể đổi thuốc, đổi hướng điều trị. Nhưng với ung thư, bỏ lỡ một chỉ định đúng là không có cơ hội quay lại”.
Câu nói ấy không nhằm tạo áp lực, mà để nhắc những người trẻ rằng ung bướu là chuyên ngành của trách nhiệm tuyệt đối. Mỗi quyết định đều có thể ảnh hưởng đến quãng đời còn lại của một con người và của cả gia đình họ.
Hơn 22 năm ở Bệnh viện K, PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền vẫn không cho phép mình hài lòng. Chị thẳng thắn thừa nhận: mình đã cố gắng hết sức để kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân, nhưng trong việc nâng cao chất lượng sống, vẫn còn những điều cần cố gắng để có thể làm tốt hơn.
Sự tự vấn ấy không khiến chị nặng nề, mà khiến chị tiếp tục học, tiếp tục cập nhật, tiếp tục lắng nghe. Bởi với chị, điều trị ung thư không chỉ là giúp bệnh nhân sống lâu hơn, mà còn là giúp họ sống có ý nghĩa hơn trong quãng thời gian ấy.
Ngày 27/2, khi nhiều người nhận hoa và lời chúc, chị có thể vẫn đang ngồi trong phòng khám, trước mặt là một người mẹ trẻ vừa nhận chẩn đoán ung thư vú. Có thể chị đang nhẹ nhàng giải thích về giai đoạn bệnh, về cơ hội điều trị, về khả năng bảo tồn, về hy vọng phía trước.
Bởi với chị, mỗi bệnh nhân ung thư, đặc biệt là những người phụ nữ không chỉ cần một toa thuốc. Họ cần một người đủ chuyên môn để định hướng giữa mê cung thông tin, và đủ kiên nhẫn để ở lại khi họ yếu lòng nhất.
Và suốt hơn hai thập kỷ qua, PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền vẫn chọn ở lại với nghề, với từng bệnh nhân. Chị tin rằng, cùng với sự tiến bộ của y học và niềm tin không buông bỏ, sẽ ngày càng có nhiều bệnh nhân mắc ung thư có cơ hội bước tiếp cuộc đời mình như được trao thêm một lần sống mới.
“Tôi yêu công việc này và tôi hạnh phúc khi đã có thể tự hào về chính bản thân mình, bởi tôi là một bác sĩ!”, PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền nói.
