Đến tận đầu thế kỷ XIX, ngành phẫu thuật ngoại khoa cũng mới chỉ xử lý được các vết thương hay khối u nằm trên bề mặt cơ thể. Lúc bấy giờ, các khoang lớn như ổ bụng, lồng ngực được xem là vùng cấm địa. Năm 1809, lần đầu tiên bác sĩ người Mỹ Mc Dowell đã quyết định mổ ổ bụng, cắt bỏ khối u buồng trứng, một loại phẫu thuật mà ông biết rằng chưa từng được thực hiện trước đó. Hành động táo bạo và mạo hiểm này đã vượt qua những hiểu biết ít ỏi thời bấy giờ, mở ra một chân trời mới cho ngành phẫu thuật ngoại khoa.
Kỷ nguyên mới của ngành phẫu thuật ngoại khoa
Mặc dù ngành phẫu thuật ngoại khoa được tách ra thành một chuyên ngành của y học từ rất sớm (khoảng 200 năm trước Công nguyên) nhưng đã không thể phát triển được trong suốt thời kỳ trung cổ do sự thống trị của đạo giáo và do Giải phẫu học - môn khoa học nền tảng của ngoại khoa vẫn chưa phát triển. Y văn thế giới chỉ ghi nhận vài ba trường hợp lẻ tẻ có tính chất đột phá trong lịch sử phát triển của ngành ngoại khoa thời kỳ đầu như: người đầu tiên tiến hành phẫu tích tử thi để nghiên cứu về giải phẫu người là nhà danh y Hy Lạp Herophile, sinh năm thứ 320 trước CN. Năm 362 trước CN, danh y Erasistrate (sinh năm thứ 310 trước Công nguyên) đã đề xuất phương pháp chữa tắc ruột và thoát vị nghẹt bằng mổ bụng. Hoa Đà (sinh năm 190 sau Công nguyên) từng dùng bột gây tê để mổ vết thương lấy mũi tên, mổ bụng, khoan sọ, thiến hoạn...
Tuy nhiên phải đến cuối thế kỷ 18, đầu 19, ngành ngoại khoa mới có những bước tiến và sự phát triển đáng kể, làm tiền đề cho sự phát triển vượt bậc của ngoại khoa trong thế kỷ XX. Một trong những người đi đầu trong công cuộc phát triển này chính là bác sĩ Ephraim Mc Dowell, người Mỹ. Ông được coi là người đặt nền móng cho ngành phẫu thuật ổ bụng khi mạo hiểm quyết tâm thám hiểm khu vực cấm địa của cơ thể người: mổ bụng để cắt bỏ khối u buồng trứng cho một người phụ nữ. Không ngờ, cuộc đại phẫu thuật ấy đã thành công mỹ mãn để rồi sau đó ông tiếp tục thành công với 11 trường hợp mổ u nang buồng trứng khác và chỉ có một ca tử vong.
Ngày nay phẫu thuật ổ bụng thực hiện thường xuyên cứu chữa nhiều người bệnh. |
Người có công nhưng không được ghi nhận
Ephraim Mc Dowell chào đời ngày 11/11/1771 tại Virginia. Năm 19 tuổi ông bắt đầu theo học ngành y dưới sự hướng dẫn của bác sĩ Alexander Humphrey ở Staunton, Virginia. Ba năm sau, Mc Dowell sang châu Âu, theo học Trường đại học Y khoa Edinburg nổi tiếng, nơi mà thầy mình đã từng học. Tại đây, Mc Dowell được John Bell, một phẫu thuật viên tên tuổi thời đó dạy cho môn giải phẫu và phẫu thuật. Đối với ông, có lẽ hai môn học này hấp dẫn và đáng lưu tâm hơn cả.
Sau 2 năm, không còn đủ tiền để tiếp tục học nữa, Mc Dowell không còn chọn lựa nào khác đành phải trở về Kentucky và chưa được công nhận là bác sĩ. Năm 1795, ông bắt đầu hành nghề tại Danville.
Năm 1809, sau 14 năm hành nghề, Mc Dowell gặp một bệnh nhân rất đặc biệt. Vào một đêm tháng 12, ngoài trời rét buốt, tuyết rơi, một người lạ gõ cửa báo cho Mc Dowell biết rằng một phụ nữ mang thai, bắt đầu chuyển dạ nhưng không sao sinh được cần sự giúp đỡ của ông. Hai bác sĩ địa phương đã khám nhưng bất lực không xử lý được. Bệnh nhân - bà Thomas Crawford, 47 tuổi. Sau khi khám cho bệnh nhân và kết hợp với những kiến thức học được ở Edinburg, Mc Dowell kết luận rằng, bệnh nhân không mang thai mà mắc bệnh u nang buồng trứng. Không phẫu thuật, bệnh nhân sẽ tử vong, còn phẫu thuật thì cực kỳ nguy hiểm nhưng vẫn có một chút hy vọng.
Cuộc phẫu thuật được tiến hành đúng vào ngày lễ Giáng sinh. Trong khi McDowell phẫu thuật thì bà Crawford hát thánh ca để quên đi nỗi đau đớn. McDowell rạch một đường dài khoảng 25cm, rồi đẩy khối u sang một bên để kiểm tra ổ bụng dễ dàng hơn. Ông buộc sợi chỉ vào cuống khối u để cầm máu, cắt khối u rồi đóng bụng lại. Toàn bộ công việc này mất khoảng 25 phút. Khối u nặng khoảng chừng 10kg.
Người ta kể lại rằng khi McDowell mổ thì dân chúng bao vây quanh nhà ông. Họ tuyên bố sẽ treo cổ ông nếu như bệnh nhân tử vong. Đám đông chỉ giải tán khi nghe tin bệnh nhân đã qua cơn nguy kịch. Nhưng McDowell hiểu rằng nguy hiểm vẫn còn đó: nguy cơ viêm màng bụng và bệnh nhân sẽ tử vong. Tất cả những gì ông có thể làm là đặt bệnh nhân lên giường và hy vọng mọi điều tốt đẹp sẽ đến. McDowell rất vui mừng vì thấy bệnh nhân tràn trề sức sống. Một tháng sau, bà Crawford trở về cuộc sống lam lũ, nặng nhọc của một phụ nữ ở vùng biên cương, tiếp tục sống thêm 32 năm nữa và chết ở tuổi 79.
Để hiểu và đánh giá đúng lòng can đảm của McDowell, chúng ta cần đặt nó vào bối cảnh lịch sử thời bấy giờ. Thầy của McDowell, John Bell, hiểu biết khá chi tiết về các khối u và phẫu thuật, nhưng ông không có cơ may để thực hiện một thử nghiệm mạo hiểm như vậy.
7 năm sau, khi phẫu thuật thành công hai trường hợp nữa, McDowell mới công bố thành tựu của mình trên một tạp chí y học ở Pennsylvania. Bản tường trình này không gây một tiếng vang nào đáng kể. Một số nhà khoa học phản đối ông, cho ông là người dối trá. Một số người khác dùng uy tín quyền lực để làm ngơ, xem như bản tường trình này không hề tồn tại. Thành tựu của Mc Dowell khó áp dụng rộng rãi bởi lẽ còn hai vấn đề nữa cần phải giải quyết: Giảm đau trong phẫu thuật và kỹ thuật sát trùng. Hai phát minh này vài chục năm sau mới xuất hiện.
Một năm trước khi chết, McDowell viết rằng ông đã mổ 11 trường hợp u nang buồng trứng và chỉ có một ca tử vong. Năm 1830, ông qua đời vì bệnh viêm ruột thừa. Mặc dù McDowell đã liên tiếp thực hiện thành công một loại phẫu thuật mà trước đó chưa ai làm được. Nhưng những cống hiến của ông lúc đó lại không được thừa nhận bởi ông chỉ là một ông bác sĩ hành nghề chữa bệnh dạo ở một vùng xa xôi hẻo lánh. Năm 1842, bác sĩ Charles Cray người Anh đã thành công với phẫu thuật này và được các đồng nghiệp cho là người có công phát minh ra sáng kiến phẫu thuật ổ bụng. Thậm chí, các bác sĩ người Anh thế hệ kế tiếp chưa bao giờ nhìn nhận những đóng góp của Mc Dowell.
Cho đến nay, sau nhiều năm trôi qua, khi người ta lần giở lại những trang y văn của nhân loại, thì vai trò tiên phong của Mc Dowell mới được thừa nhận. Nhưng dù sao thì cuộc đời của McDowell cũng là một bài học quý giá cho các thầy thuốc về lòng can đảm, niềm tin vững chắc và nhất là tinh thần dám nghĩ, dám làm trước bất kỳ khó khăn nào.
Lê Anh (Theo NewSiences)