Có đất nhưng... không thể sản xuất
Năm 2012, dự án thủy điện Hủa Na triển khai, hàng trăm hộ dân xã Đồng Văn (cũ) chấp nhận rời nơi ở để nhường đất cho công trình. Ngày ấy, người dân được vận động đến nơi tái định cư sẽ ổn định hơn nên ai cũng đồng thuận chuyển đến nơi ở mới.

Bản Piêng Cu là nơi tái định cư của hàng trăm hộ dân nhường đất xây dựng thủy điện Hủa Na, nhưng đến nay nhiều hộ vẫn gặp khó vì thiếu đất sản xuất và nước sinh hoạt. Ảnh: Song Hoàng
Nơi ở mới, mỗi hộ được bố trí 400 m² đất ở, mỗi khẩu 200 m² đất ruộng và khoảng 2 - 3 ha đất rừng sản xuất. Gia đình anh Lô Văn Kỳ, trú tại bản Piêng Cu (xã Tiền Phong) có 2 ha đất rừng cách nhà gần 3 km. Khi chuẩn bị phát dọn để trồng keo, chính quyền thông báo diện tích này là rừng tự nhiên, không được chuyển đổi sang rừng sản xuất. "Từ đó đến nay, chúng tôi chỉ được khoanh nuôi, bảo vệ rừng và nhận tiền khoán khoảng 400.000 đồng mỗi ha mỗi năm. Có đất mà không làm được gì. Hết mùa phát cỏ, ai thuê gì làm nấy. Những hôm không có việc, tôi lên rừng hái măng mang xuống chợ bán để kiếm thêm thu nhập", anh Lô Văn Kỳ nói.
Ruộng ít, rừng không thể sản xuất khiến nguồn thu của gia đình ngày càng eo hẹp. Vợ chồng anh Kỳ phải đi làm thuê quanh vùng để có tiền mua gạo. Nhiều người trẻ ở đây cũng phải rời bản làng, tìm đến các khu công nghiệp để làm công nhân. Vì hoàn cảnh nên anh Kỳ không đi xa mà ở nhà ai thuê gì làm nấy, còn không có việc, vào mùa măng thì lên rừng hái măng đem về bán. "Ở quê cũ, đất rộng nên chưa bao giờ thiếu gạo. Cá dưới sông, măng trong rừng lúc nào cũng có. Ra đây đường sá thuận tiện hơn nhưng làm ăn lại khó hơn nhiều", anh Kỳ trầm ngâm.
Cách nhà anh Kỳ không xa, gia đình bà Vi Thị Viêng với 5 nhân khẩu cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự. Một nghìn mét vuông ruộng không đủ lương thực quanh năm, còn 2 ha đất rừng được giao thì không thể phát dọn để trồng cây. "Có đất mà cũng như không. Muốn có thêm thu nhập chỉ còn cách vào rừng hái măng", bà Viêng nói.
Không chỉ chật vật vì thiếu đất sản xuất, nhiều năm qua, hàng trăm hộ dân ở khu tái định cư bản Piêng Cu còn phải sống trong cảnh thiếu nước sinh hoạt mỗi khi mùa khô đến. Ngày người dân chuyển về nơi ở mới, chủ đầu tư dự án thủy điện Hủa Na đào 12 giếng với kỳ vọng bảo đảm nguồn nước lâu dài. Thế nhưng chỉ sau một thời gian sử dụng, nhiều giếng lần lượt cạn trơ đáy. Chính quyền địa phương cũng nhiều lần khoan thêm giếng để tìm nguồn nước ngầm nhưng đều không mang lại kết quả.
Khó khăn càng chồng chất sau trận lũ lớn năm 2025, khi hệ thống nước tự chảy dẫn từ trên núi về bản bị hư hỏng. Dù mới đây tuyến ống đã được khắc phục tạm thời, lượng nước dẫn về vẫn rất ít, không đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của hàng trăm hộ dân. Vào những ngày nắng nóng kéo dài, nhiều gia đình lại tự đào, khoét sâu thêm các giếng với hy vọng tìm được mạch nước. Nhưng ở vùng đất vốn khan hiếm nguồn nước ngầm này, mọi nỗ lực nhiều khi cũng chỉ đổi lại những chiếc giếng cạn và nỗi lo thiếu nước kéo dài qua từng mùa khô.
Mắc kẹt vì thiếu đất và vướng quy định
Để xây dựng thủy điện Hủa Na, năm 2012, có 1.362 hộ dân phải di dời đến các khu tái định cư. Tuy nhiên, sau khi người dân chuyển đến nơi ở mới, việc bố trí đủ đất sản xuất gặp nhiều khó khăn do quỹ đất hạn hẹp. Bên cạnh đó, việc xác định mức bồi thường chênh lệch giữa đất nơi ở cũ và nơi ở mới cũng kéo dài nhiều năm vì chưa thống nhất quan điểm giữa địa phương và chủ đầu tư.
Sau nhiều lần làm việc với các bộ, ngành, chủ đầu tư đã thống nhất phương án bồi thường theo từng loại đất. Dù vậy, đến nay vẫn còn 206 hộ dân chưa được giải quyết dứt điểm quyền lợi.

Người dân bản Piêng Cu lại đeo gùi lên rừng hái măng mang xuống chợ bán để kiếm thêm thu nhập. Ảnh: Song Hoàng
Theo UBND xã Tiền Phong, hiện còn 53 hộ ở bản Piêng Cu chưa nhận đất ruộng vì khu đất được bố trí nằm cách khu dân cư từ 6 - 7 km, đường đi khó khăn nên người dân không thể canh tác.
Ông Lô Văn Thứ, một người dân ở bản Piêng Cu cho biết, phải 6 năm sau khi chuyển đến nơi ở mới, người dân mới được bố trí ruộng nhưng vị trí quá xa nên nhiều hộ đành từ chối. "Bốn năm đầu còn được nhà nước hỗ trợ gạo. Hết thời gian hỗ trợ mà vẫn chưa có ruộng sản xuất, nhiều người phải đi làm thuê khắp nơi để kiếm sống", ông Thứ nói.
Ngoài ra, xã Tiền Phong còn 60 hộ chưa được giao đủ đất nông nghiệp và đất trồng cây lâu năm. Trong đó, 40 hộ vướng diện tích rừng tự nhiên chưa thể chuyển sang rừng sản xuất, số còn lại đã có phương án nhưng địa phương không còn quỹ đất để bố trí.
Theo chính quyền địa phương, đây cũng là nút thắt lớn nhất khiến việc giải quyết quyền lợi cho người dân kéo dài suốt nhiều năm. Trong khi quỹ đất gần như không còn thì quy định hiện hành lại không cho phép quy đổi đất sản xuất thành tiền để bồi thường.
Tại cuộc họp mới đây do UBND tỉnh Nghệ An tổ chức, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phùng Thành Vinh yêu cầu xã Tiền Phong hoàn thành việc đối chiếu đất nông nghiệp của 93 hộ còn lại trước ngày 30/11 để làm cơ sở chi trả bồi thường. Đồng thời, địa phương phối hợp chủ đầu tư rà soát diện tích rừng tự nhiên đã giao cho người dân nhưng nằm trong phạm vi chuyển mục đích sử dụng rừng để có hướng xử lý.
Theo bà Lô Thị Nguyệt, Chủ tịch UBND xã Tiền Phong, địa phương nhiều lần vận động 53 hộ dân nhận ruộng nhưng không thành vì người dân cho rằng khoảng cách quá xa, không hiệu quả sản xuất và mong muốn được nhận tiền để chủ động tạo sinh kế.
Tuy nhiên, theo Quyết định số 2327/2009 của UBND tỉnh Nghệ An về cơ chế bồi thường đặc thù đối với dự án thủy điện Hủa Na, đất sản xuất không được quy đổi thành tiền hỗ trợ. "Hiện nay, chủ đầu tư thủy điện Hủa Na có sẵn tiền để chi trả tiền bồi thường chênh lệch đất và hỗ trợ cho người dân nhưng do vướng quy định nêu trên nên rất khó thực hiện", bà Nguyệt nói.
Theo bà Nguyệt, trước thực tế không còn quỹ đất để bố trí cho một số hộ dân, địa phương sẽ kiến nghị UBND tỉnh điều chỉnh Quyết định 2327. Hướng đề xuất là cho phép những trường hợp không thể giao đất ruộng, đất sản xuất được nhận bồi thường, hỗ trợ bằng tiền để chủ động tìm sinh kế.
