Người đàn bà và giấc mơ thiêng

Xã hội
Người đàn bà ấy vốn thuộc hàng nhan sắc khiến bao chàng trai si mê, đáng ra bà phải được sống hạnh phúc như bao phụ nữ khác. Nhưng, chiến tranh không từ một phận người nào cả, em trai bà lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi của Tổ quốc thiêng liêng, đồng nghĩa với việc bà phải hy sinh tuổi thanh xuân để phụ dưỡng gia đình.

Người đàn bà ấy vốn thuộc hàng nhan sắc khiến bao chàng trai si mê, đáng ra bà phải được sống hạnh phúc như bao phụ nữ khác. Nhưng, chiến tranh không từ một phận người nào cả, em trai bà lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi của Tổ quốc thiêng liêng, đồng nghĩa với việc bà phải hy sinh tuổi thanh xuân để phụ dưỡng gia đình. Thế rồi, khi hoà bình lập lại, người cha già mất đi, để lại một lời trăn trối là bà phải cố đi tìm đưa mộ em trai về quê. Và, lời trăn trối của cha trước lúc mất như một lời nguyền bám lấy cuộc đời bà. Bà quyết định không lấy chồng, không lo hạnh phúc cho riêng mình mà gom góp tất cả những gì mình có để đi tìm mộ em. Ðó là câu chuyện cảm động về bà Phạm Thị Tâm, 69 tuổi, ở xã Lệ Chi, Gia Lâm, Hà Nội.        

31 năm máu chảy ruột mềm...

Đêm xuống, ngôi nhà bà Tâm rách tơ tướp, tếnh hếch với gió trời, bên trong là mùi ẩm mốc, vo ve tiếng ruồi muỗi. Bà Tâm đang im lìm trong giấc ngủ, bỗng ú ớ gọi:

- Duyệt ! Em về đấy hả! Vào nhà đi, gầy quá...!

Bà Tâm vật vã trên giường mà không tỉnh giấc:

- Duyệt! Sao em cứ đứng mãi ngoài sân...      

Cứ thế, bóng của cậu em trai bà - liệt sĩ Phạm Văn Duyệt, hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ - lùi xa dần vào sương khói, bà gọi mãi mà bóng người trong mơ ấy cứ mờ, ảo, xa đến vời vợi. Kể từ sau ngày cha chết, ước nguyện, lời trăn trối của cha trước lúc nhắm mắt xuôi tay làm bà nghĩ ngợi nhiều, nhớ thương em cũng nhiều lên và số lần gặp em trai trong mơ cũng tăng lên. Bà Tâm kể cho mọi người trong nước mắt:

- Có nhiều đêm, Duyệt về trong cơn mưa, áo quần tơi tả, kêu với tôi nào đói, nào rét, nào nằm lại nơi rừng thiêng nước độc, chỉ có xương cốt đồng đội phơi trắng vì đạn bom của Mỹ, lại càng thương...

Càng thương, bà càng mong đi tìm mộ em mình về quê để tâm thần của bà không rối loạn, không phải nằm mơ những điều buồn phiền nữa. Nhưng, bà Tâm lại hỏi mọi người:

- Là phận đàn bà côi cút, tiền bạc lại hiếm... làm sao tôi có thể tự thân lặn lội vào chiến trường tìm mộ em trai?

 Bà Tâm bây giờ đã vui vẻ trở lại.

Câu hỏi đó không một ai dám trả lời thật lòng bà được. Cũng đúng thôi, bà đã hy sinh thời con gái để thay em trai chăm sóc cha già, thì nay, có việc tìm, đưa mộ em về sao không làm được chứ? Mà ngày ấy, mẹ mất sớm, cha bà sống cảnh gà trống nuôi con, khổ ải biết bao nhưng chị em bà vẫn lớn lên và được lo đủ mọi cái như con nhà người khác, âu đó cũng là cái đức hy sinh của cha. Năm 1967, sau khi học xong lớp 8, Duyệt nhập ngũ, mấy em gái đi lấy chồng. Bà Tâm ở vậy nuôi cha cho đến ngày cụ mất. Sau khi cha mất rồi bà vẫn cắn răng ở vậy để thực hiện lời trăn trối cuối cùng của cha lại càng đáng nể hơn.

Những ngày tháng chưa đi tìm mộ em trai, bà đau khổ, dằn vặt, và hằng đêm vẫn thấy em hiện về báo mộng lại càng khổ tâm hơn. Nên, sau năm 1980, khi có giấy báo tử về, bà quyết định đi tìm mộ em trai mình, cuộc tìm kiếm nào cũng lăn đầy nước mắt...

     *

*       *

Bây giờ, khi chúng tôi gõ cửa các ban ngành, nhất là khi tiếp xúc với những cán bộ làm chính sách huyện Gia Lâm thì ai cũng kể về hành trình 31 năm tìm mộ của bà Tâm càng làm chúng tôi kính phục. Những nhân chứng kể lại rằng, bà Tâm đã bán hết tài sản, gom góp tiền bạc, đi đến đơn vị cũ, gõ cửa các ban ngành nhờ giúp đỡ, ai cũng bận việc, họ giúp phần nào thôi, vì thế hành trình tìm mộ em thì vẫn như bóng chim tăm cá. Bà Tâm trở về đi vay mượn để làm cuộc hành trình mới, quyết liệt hơn là sang nước bạn Lào, nơi mà Duyệt từng tham gia chiến đấu để tìm em. Bà lặn lội đến những địa danh như Sầm Tớ, Hủa Mường, Sầm Nưa, Viêng Thoong... xa lạ để tìm mộ em mà vẫn không thấy. Bà trở về trong ngơ ngác, thân hình gầy teo, hốc hác. Tiếp theo sau là những ngày sống trong tâm trạng rối bời. Có nhiều đêm liền mê sảng như người bị điên. Hàng xóm láng giềng đồn bà bị điên thật, nhưng bản thân bà biết, do nghĩ đến em nhiều quá, hay cũng bởi tình cảm giữa bà và Duyệt sâu nặng nên chị em có sợi dây vô hình, cho dù kẻ ở trần gian, người ở bên kia chín suối vẫn gặp nhau. Cách duy nhất để bà khẳng định là tự vận động, tự lấy lại tinh thần để tiếp tục tìm mộ em chứ không dễ dàng bỏ cuộc như vậy được!

Gặp lại kỷ vật

Sau khi hành trình đi tìm mộ của em trai có kết quả mãn nguyện cũng là lúc tiếng lành đồn xa, ai cũng biết câu chuyện cổ tích về bà, các đoàn thể, cá nhân cảm phục, giúp đỡ bà từ vật chất cho đến tinh thần. Ðược biết, đến thời điểm này, ngành chính sách địa phương cùng các doanh nghiệp, cá nhân đã hỗ trợ bà Tâm xây nhà tình thương, làm nơi thờ tự liệt sĩ Phạm Văn Duyệt đúng với đạo lý nhớ công ơn các liệt sĩ. Ngoài ra, bà con lối xóm còn ủng hộ tiền cho bà Tâm để mua một con bê làm của để dành. Bây giờ, ngày ngày, trong ngôi nhà mới khang trang, sức khỏe và tinh thần bà Tâm hồi phục tốt sau hành trình tìm mộ em kéo dài 31 năm trời đằng đẵng, nước mắt đau khổ không còn lăn dài trên má như những ngày vong hồn em trai còn lưu lạc nơi xa.

Thế rồi, vào năm 2000, bà Tâm tưởng chừng như thất vọng, sức khỏe bà yếu rồi, đang định nghỉ ngơi để sang Lào lần nữa thì bất ngờ nhận được thư của Trung tá Phạm Thị Tiến, Giám đốc Bảo tàng Quân khu 4, yêu cầu bà gửi giấy báo tử của em trai nhằm khớp nối với thông tin về liệt sĩ Phạm Văn Duyệt. Bà mừng như bắt được vàng. Cả đêm hôm ấy mấy chị em gái không ngủ đợi trời sáng với cảm xúc nôn nao. Hôm sau, bà Tâm đạp xe vào Hà Nội tìm gặp chị Tiến để tìm kiếm tin tức phần mộ em trai mình theo yêu cầu, bà hy vọng lần này sẽ có thông tin, địa chỉ chính xác về nơi em trai bà hy sinh và mộ chí rõ ràng hơn.

Lên đến nơi, gặp được chị Tiến, bà Tâm không tin vào mắt mình rằng kỷ vật và cũng là hiện vật duy nhất để xác nhận hài cốt của em trai mình lại chính là tấm ảnh chân dung mà bà đã tặng Duyệt vào lần gặp cuối cùng. Về tấm ảnh, bà Tâm thuật lại như sau: “Vào năm 68, khi em trai tôi đóng quân ở Nho Quan, Ninh Bình, tôi đã vào tận nơi và đưa tặng em tôi tấm ảnh chân dung để làm kỷ niệm mang theo trong mình. Không ngờ, tấm ảnh tôi đưa cho em hơn 30 năm ấy giờ lại trở lại tay tôi và kèm theo là hài cốt của em tôi”.

Còn nhớ, lần bà lặn lội vào tận Nho Quan gặp Duyệt, thấy em đen và gầy nhưng chững chạc. Thấy thế, bà Tâm càng thương em, bà trách:

- Duyệt, sao mày đi mà không báo với cha, với chị..., mày hư quá em ạ.

Duyệt thấy chị khóc, cũng khóc theo và trả lời chị: 

- Chị ơi, chiến tranh mà, có ai tránh khỏi chia ly tử biệt, em đi thôi.        

- Mày đi thì phải xin phép cha, gia đình họ tộc đàng hoàng, ai nỡ cản mày đi đánh giặc đâu. Đằng này, mày bỏ đi rồi không để lại thông tin gì, cứ đi như bỏ nhà đi, mãi đến khi có đồng đội về phép mày mới gửi thư báo về. Cha, chị, các em cứ tưởng mày đi biệt tích rồi. Giờ biết, ai cũng thương mày. Sớm đánh giặc rồi về, mọi người đợi!                                     

- Chị à!... lần này...      

- Tao biết rồi, mày đi xa chứ gì, sang chiến trường Lào đúng không. Bên đó, ác liệt, “khó ở” lắm, mày...          

- Chị ơi? Em là em của chị, em của bao chiến sĩ đàn anh đã ngã xuống vì mảnh đất này thì em không thể chết khi còn bóng quân thù. Chị về nói với cha, các em, mọi người, em không sao đâu.     

- Ừ, chị cũng mong cho chân cứng đá mềm, mày và đồng đội về cả...                 

 Tấm ảnh chân dung bà Tâm hồi trẻ - Kỷ vật giúp bà tìm lại được hài cốt người em trai.

Đêm đó, hai chị em ngồi bên nhau tâm sự cả đêm mà không hết chuyện. Em kể chuyện tập huấn ở thao trường. Chị thì kể về cha, về em và vùng quê thân yêu cho em trai nghe, cứ như có điềm gì đó báo trước cuộc chia tay định mệnh. Sáng hôm sau, trước lúc chia tay, bà Tâm đưa cho Duyệt 12 đồng bạc và một cái túi bóng gói cẩn thận. Thấy thế, Duyệt hỏi:

- Gì vậy chị, mà gói cẩn thận thế?       

- Tấm hình của chị, mày cầm coi như chị em không xa nhau, coi như chị đi theo bảo vệ và đưa mày về nữa chứ!    

Không ngờ, đó chính là lần chia tay cuối cùng của chị em bà Tâm. Để rồi, qua hành trình lưu lạc, giờ đây chính tấm hình chân dung của bà gửi tặng em trai lại giúp bà nhận ra hài cốt của em, âu cũng là ông trời có mắt, rất công bằng với chị em bà. Lễ truy điệu đón hài cốt của liệt sĩ Duyệt được các cấp chính quyền lo chu đáo, trang trọng và linh thiêng như bao liệt sĩ oanh liệt khác. Riêng phần bà Tâm thì mừng vui mà khóc sướt mướt mấy ngày đêm không ngừng, giờ đây lời trăn trối của cha đã thực hiện được, bà còn tiếc gì sự chịu đựng của mình đâu. Hơn nữa, chị em gần nhau, hương khói và chăm sóc phần mộ cũng thuận lợi, bà như trút được phần nhiều ưu phiền và gánh nặng. Còn chúng tôi, khi cùng bà ra phần mộ của liệt sĩ Phạm Văn Duyệt, cùng với những hiện vật, tài liệu có được về câu chuyện của bà Tâm càng làm chúng tôi xúc động, cảm phục và không biết phải viết thế nào cho không phụ công bà Tâm và những người đã ngã xuống vì mảnh đất mà chúng ta đang sống hoà bình, hạnh phúc. Và, có một phần nhỏ của câu chuyện không thể không kể là về chị Tiến, người đã giúp bà Tâm thực hiện giấc mơ tìm mộ em. Đây cũng là yêu cầu của bà Tâm, bà cứ nói rằng, chị Tiến phải được nhắc nhiều trong bài báo về gia đình bà, vì chị có công lớn không chỉ với gia đình liệt sĩ Duyệt. Mà chính chị cũng đã bỏ công sức, hy sinh quyền lợi cá nhân để giúp thân nhân gia đình nhiều liệt sĩ tìm lại được mộ phần, giúp cho người ngã xuống cũng như thực hiện ước nguyện của nhiều thân nhân liệt sĩ như bà Tâm, một việc làm cao đẹp làm sao! Chị Tiến vốn quê ở Nghệ An, thời gian làm phiên dịch ở Bảo tàng Lịch sử thường tiếp xúc với nhiều hiện vật của những liệt sĩ, chị thường theo những đoàn quy tập mộ liệt sĩ, lặn lội khắp các chiến trường. Sau một lần đến Phanakhẹt quy tập mộ liệt sĩ, nhặt được tấm hình chân dung của bà Tâm trong một hài cốt. Về Hà Nội, chị cất công hỏi thăm, đăng báo và cuối cùng tìm được địa chỉ của bà Tâm, cũng là lúc nắm được thông tin về hành trình đi tìm mộ em trai kéo dài 31 năm trong nước mắt của bà Tâm, càng thêm thương cảm. Chính điều đó đã đưa đẩy hai người phụ nữ thuộc hai thế hệ nhưng có cùng một mục đích và nghĩa cử cao đẹp đến với nhau.

Ký củaDung Trần


Ý kiến của bạn