Nhưng theo chỗ tôi biết, nhà thơ, nhạc sĩ, nhà báo Nguyễn Thụy Kha là một trong số những người đam mê và viết nhiều trường ca về mảng đề tài này.
Sức lao động nghệ thuật đáng quý nể
Trước khi bàn đến sự đam mê thể loại trường ca viết về đề tài người lính và chiến tranh cách mạng của nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha, thiết tưởng cũng cần biết ông là ai và cơ duyên, nguồn cơn nào đã dẫn dụ ông từ một người bình thường như trăm ngàn người khác được sinh ra trên cõi dương gian này trở thành một người vừa có sức lao động dồi dào rất đáng quý nể, vừa tài hoa trong hoạt động văn chương, nghệ thuật.
Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha từng tốt nghiệp Đại học Thông tin trước khi gia nhập quân đội vào tháng 9/1971, rồi sau đó ông đã theo học Trường Viết văn Nguyễn Du. Trong khoảng từ 1972 - 1982, ông từng phục vụ trong quân đội với tư cách là một kỹ sư thông tin, liên lạc thuộc Binh chủng Thông tin và trực tiếp tham gia chiến đấu tại các chiến trường ác liệt Quảng Trị, Khu V và Tây Nguyên. Từ 1982 - 1990, ông chuyển sang làm cán bộ tuyên huấn trong quân đội. Có thể nói, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha là người hoạt động sôi nổi trong nhiều lĩnh vực khác nhau từ văn chương, thơ ca đến âm nhạc, điện ảnh và báo chí.
Trong sự nghiệp cầm bút của mình, ông đã cho xuất bản hàng chục tập thơ và văn xuôi, nhạc; viết 12 kịch bản phim chân dung nghệ sĩ, 20 lời bình cho các bộ phim khác nhau. Ông cũng từng đoạt được nhiều giải thưởng văn chương và âm nhạc. Những tác phẩm tiêu biểu của ông gồm: Hương nắng tiếng chim (Thơ, in chung, 1982); Sóng nhà đêm biết tôi yêu (Thơ, in chung, 1986); Những giọt mưa đồng hàng (Thơ, in chung, 1987); Mắt thời gian (Thơ, 1988); Lúc ấy - biển (Thơ, 1989); Văn Cao - Người đi dọc biển (Tập truyện, 1992); Hàn Mặc Tử - Thi sĩ đồng trinh (Tập truyện, 1993); Không mùa (Thơ, 1994); Một lần thơ trẻ (Truyện ngắn, 1994); Văn Cao - Cuộc đời và tác phẩm (Biên soạn, in chung, 1995). Thời máu xanh (1999), Năm tháng và chiều cao, Gió Tây Nguyên (2000), Biệt trăm năm (2004). Ông còn là người tuyển chọn và biên tập cuốn 1.000 ca khúc Thăng Long - Hà Nội do Nhà xuất bản Âm nhạc ấn hành năm 2010. Năm 2011, ông xuất bản tập thơ Thuở binh nhì và năm 2012 là tập Lúa tím. Đến năm 2017, cùng một lúc ông cho ra mắt công chúng 13 cuốn gồm các tiểu thuyết, chân dung, phê bình, tiểu luận văn học và âm nhạc tại Nhà hát Lớn, Hà Nội. Đến năm 2018, ông ra mắt tập trường ca lục bát có tên là Nàng và cuốn tự truyện Phạm Duy và tôi.
Trường ca ngắn và kịch thơ của Nguyễn Thụy Kha gồm kịch thơ Tình làng và 8 trường ca ngắn: Lòng chảo, Cực sóng, Biến tấu Souliko, Màu Quảng Trị, Hà Nội tháng Chạp nóng, Gió Tây Nguyên, Mùa Xuân trắng và Những người bốc vác đã đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2014. Cũng trong năm ấy, ông còn nhận được giải thưởng của Hội Nhạc sĩ Việt Nam cho tác phẩm Hợp xướng Điện Biên do ông biên soạn. Hiện nay ông có trên mạng 12 bản hợp xướng.
Như vậy, chỉ xét riêng về số lượng, có thể nói Nguyễn Thụy Kha là người đam mê thể loại trường ca, mà chủ yếu là về đề tài chiến tranh cách mạng và người lính bên cạnh những tác phẩm sáng tác, phê bình thơ, phê bình âm nhạc, chân dung nhạc sĩ,... trong một quãng thời gian không phải là dài. Điều này cho thấy trong cả hai tư cách công dân và nghệ sĩ, ông đã lao động cật lực, hết mình và thực sự say mê, nhưng rất nghiêm túc mà trong làng văn chương đương đại không nhiều người có được sức viết như thế, nhất là khi ông đã ở vào tuổi lớp người xưa nay hiếm.

Bìa cuốn sách 5 trường ca của Nguyễn Thụy Kha vừa được ra mắt hồi tháng 4/2019.
Vẫn là những vần thơ về chiến tranh và người lính
Có thể nói, bản thân cuộc đời của những người lính trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và chống quân bành trướng Trung Quốc xâm lược để bảo vệ Tổ quốc đã là những bản trường ca bằng xương, bằng thịt bất tận của hôm qua, hôm nay và mãi về sau. Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha cũng là một người lính trong đoàn quân vô tận ấy trong những năm tháng chiến đấu chống Mỹ cứu nước rất đỗi hào hùng của dân tộc ta. Hơn ai hết, ông là người đã từng vượt thoát ra khỏi cuộc chiến ấy, nên thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ với những người cùng chung chiến hào chống ngoại xâm trước đây, mà những người ngoài cuộc khó có thể làm được điều ấy.
Đấy vừa là một trải nghiệm cá nhân đầy cam go, vừa là trách nhiệm với đồng đội, vừa là tiếng gọi cao cả nhưng rất gần gũi, vừa thân thương nhưng cũng đầy sự thiêng liêng, thiện nguyện từ trái tim quặn thắt, thậm chí có khi còn rớm máu của ông khi vừa buông tay súng đã chuyển ngay sang tay bút. Đấy cũng chính là nguồn cội sản sinh ra các nền văn chương, nghệ thuật chống Pháp, chống Mỹ và chống quân bành trướng xâm lược phương Bắc và cũng là nguồn cội để thi sĩ tài hoa Nguyễn Thụy Kha đam mê suốt đời với thể loại trường ca. Minh chứng là với 8 trường ca ngắn được giải của Hội Nhà văn Việt Nam (2014), chỉ sau 5 năm (2019), Nguyễn Thụy Kha lại cho ra đời tiếp 5 trường ca khác. Bởi lẽ theo quan niệm của nhà thơ, thời nay trường ca mà viết dài chẳng mấy ai đọc, nên ông chủ trương chỉ viết trường ca ngắn hoặc vừa, mặc dù đề tài người lính và chiến tranh cách mạng chẳng bao giờ hết thôi thúc ông phải cầm bút.
Bộ sách thơ in gộp 5 trường ca: Rừng đỏ, Hành lang thép, Một chiến binh, Những người đi qua biển và 8 giờ của nhà thơ - nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha vừa mới ra mắt vào sáng 7/4/2019.
Tôi thật sự vất vả lắm mới đọc hết được 5 trường ca in trong tập sách này mà tác giả đã ký tặng. Nói là vất vả bởi lẽ trong gần 220 trang in, khổ giấy 15,5 x 23cm, dường như trang nào cũng khi gần, lúc xa, khi trực tiếp, lúc gián tiếp không khí cuộc chiến tranh có một không hai trong lịch sử dân tộc với những ký ức còn vẹn nguyên cứ dội lại làm ám ảnh tâm trí tôi bởi sự hiển lộ những điều tâm huyết nhất của Nguyễn Thụy Kha trên mỗi trang viết vẫn còn hầm hập nóng, như mới xảy ra cách đây chưa lâu. Là người lính chiến đồng thời cùng với nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, tôi thực sự cảm nhận được những mất mát hy sinh của chính cá nhân khi đang tham gia cuộc chiến cùng đồng đội ở chiến trường với những khó khăn, gian khổ từ cái ăn, cái mặc, đi lại chuyển quân, bám chốt cho đến những cuộc hành quân xuyên ngày đêm băng rừng, vượt suối với những cơn sốt rét ác tính làm co rúm người lại, những đợt oanh kích pháo bầy, bom chùm, bom bi, mìn lá, bắn tỉa,... của kẻ thù, cứ thế dồn dập bủa vây, đổ sập lên đầu những người lính chúng tôi. Xen giữa những phút nghỉ ngơi nối hai đầu trận đánh là nỗi nhớ khôn nguôi bố mẹ, vợ con, quê hương miền Bắc thân yêu cứ dâng trào. Chiến tranh là khoảng thời gian bất bình thường của lịch sử loài người, mà người gánh chịu sự bất thường ấy đầu tiên không ai khác là chính những người lính trên mặt trận, trước hòn tên, mũi đạn của kẻ thù.
Bộ sách 5 trường ca của Nguyễn Thụy Kha vừa ra mắt lần này, nói chung đều rất đáng để đọc vì mỗi tác phẩm đề cập đến một vấn đề riêng trong một chủ đề chung là chiến tranh cách mạng và người lính.
Nếu ở Hành lang thép là trường ca viết về những thế hệ thanh niên háo hức lên đường tòng quân diệt giặc với khí thế xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước và tinh thần quyết tâm theo tiếng gọi của Bác Hồ kính yêu: Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải lấy lại quyền độc lập cho dân tộc, thì trường ca 8 giờ được sáng tác vào năm 2017. Đây là tác phẩm văn chương duy nhất viết về cuộc đụng độ giữa quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và lính đánh thuê Park Chung Hee mà ông muốn dành tặng cho những người đã ngã xuống, những người đang sống ở mọi miền, mọi phía trên trái đất này có kỷ niệm, có quan tâm tới cuộc chiến tranh ở Việt Nam trước đây như một lời tri ân của một người đồng đội năm xưa cùng chiến hào chống quân xâm lược.
Còn ở trường ca Một chiến binh, nhà thơ đã đem đến cho bạn đọc một góc nhìn khác về một người lính cụ thể bằng xương, bằng thịt đó ông là Lê Triệu, người có đầy đủ phẩm chất của một người anh hùng trong đoàn quân chiến binh năm xưa.
Những người đi qua biển đã được nhà thơ tái hiện lại chuyến đi cùng các văn nghệ sĩ sang Mỹ dự lễ kỷ niệm thành lập 30 năm Viện William Joiner (Khoa tiếng Việt) thuộc Trường đại học Massachusetts (Mỹ). Đấy là quá trình tạm gác lại quá khứ, hướng tới tương lai trong việc hàn gắn những vết thương chiến tranh, dù đã qua đi vài chục năm, nhưng vẫn còn âm ỉ nhỏ máu xuống tâm hồn bao người, những mất mát của hai dân tộc Việt Nam và Hoa Kỳ trong và sau cuộc chiến khốc liệt một mất, một còn cách đây gần nửa thế kỷ, nay lại bắt tay nhau như những đối tác tin cậy, như hai người bạn tốt đang cùng nhau trên con đường hướng tới tương lai của hai dân tộc.
Nhưng có lẽ trường ca Rừng đỏ, tác phẩm được sáng tác trong những đêm nửa tỉnh nửa mê, những cánh rừng nhuộm đỏ máu đồng đội luôn ám ảnh ông. Đấy là những con người: Khi chiến tranh ập đến/ giật cửa từng chùa đình/ lôi con người ra ngoài yên tĩnh/ họ tự lộn trái mình/ thành lính/.../ vào trận trắng trong đôi mươi mười tám/ vô tư hiến dâng vô tư hy sinh/ máu nhuộm hoàng hôn nhuộm cả bình minh/.../ họ đã sống kiềm mình gan góc/ đường mòn dài theo bán đảo thân yêu/ đỉnh dốc họ đã vét sạch mình để tiêu/ cho lý tưởng... Những người đồng đội, hay đúng hơn thế hệ của những người lính chúng tôi năm xưa là như thế đấy. Chiến đấu quên mình vì lý tưởng cách mạng là điều không còn phải bàn cãi.
Tuy nhiên, cũng chính những người lính anh dũng chiến đấu, hy sinh giành độc lập cho dân tộc trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, hôm nay trở về với hòa bình, họ phải đối diện với một cuộc chiến mới không kém phần cam go, khốc liệt, nhưng đấy là sự thật hiển hiện mà phần đông trong số họ ít ai ngờ tới: Ai cũng ngỡ thống nhất rồi đất nước sẽ ấm no/ thanh bình đầy tiếng cười tiếng hát/ đâu ngờ hết chia cắt lòng người lại rạn nứt/ bao tâm tư chìm đắm hoàng hôn/.../ trong anh là cuộc chiến tranh cũ chưa quên/ ngoài anh là cuộc chiến tranh mới giật giành từng bữa/.../ con trai nhà nông ra phố bán sức/ con gái nhà nông ra phố bán mình/ đất làng ngày xưa thấm máu hy sinh/ đất làng ngày nay làm giàu bao kẻ...
Trước thực tế ấy, người lính chiến năm xưa, hôm nay bỗng dưng thấy tim mình quặn thắt, nhói đau và như có lỗi với những người đã ngã xuống. Đến mức như trong cơn mê sảng, nhà thơ đã phải thốt lên rằng: Người mất, người còn mãi sống trong hồi ức chiến tranh/ cay đắng nhận ra bạn ngã xuống thay mình/ đau đớn làm sao mình không cùng bạn ngã xuống/ ân hận vì bao năm sau chiến tranh sống hèn sống đớn/ cuộc sống mà bạn mình ngã xuống trao cho...
Có thể nói, suy nghĩ và tâm trạng này của người lính, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha cũng là suy nghĩ và tâm trạng chung của không ít người lính đã may mắn được sống sót sau chiến tranh. Rừng đỏ như là nén tâm nhang mà nhà thơ như muốn thắp lên cho những người đồng đội của mình dù đã nằm lại nơi trận tuyến năm xưa hay được sống trong hòa bình hôm nay. Xin chúc mừng ông và hy vọng sẽ được đọc ông trong những sáng tác mới.