Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Trần Huyền Trân (13/9/1913 – 13/9/2013)

Người cuối cùng trào lưu Thơ Mới và mở đầu tiếng thơ kháng chiến

Viết cuốn Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh - Hoài Chân không ham phân tích, bình luận dài, hai ông thường viết ngắn mà tinh tế, chân xác, chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của phong cách thơ từng tác giả.
Viết cuốn Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh - Hoài Chân không ham phân tích, bình luận dài, hai ông thường viết ngắn mà tinh tế, chân xác, chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của phong cách thơ từng tác giả. Nhưng khi viết tới những trang cuối cuốn sách, dường như hai ông mệt mỏi sau khi đã giới thiệu đến 45 nhà Thơ Mới một cách thấu đáo. Như một doanh gia sau thời gian tất bật với thị trường, đang muốn khóa sổ để kiểm lại doanh số thì vị khách cuối cùng Trần Huyền Trân bỗng xuất hiện. Cái vẻ khác người của ông làm chủ nhà phải hoãn công việc để tiếp thêm vị khách mới, nhưng cũng là thù tiếp qua loa, không kỹ càng, săm soi nhiều góc độ như với những khách hàng đến trước...

Tôi nhận ra điều ấy khi hai ông nhận xét: "... Trần Huyền Trân không phải là một thiên tài. Nhưng tôi ưa những vần thơ hiền lành và ít nói yêu đương". Và ở cuối bài, ông thêm: "Thơ Trần Huyền Trân không xuất sắc lắm, nhưng sau khi đọc hoài những câu rặt anh anh em em, tôi đã tìm thấy cái thú của người đi đổi gió". Đó là toàn bộ nhận xét của hai ông về Trần Huyền Trân, kèm theo một số câu thơ trích cho kín hai trang và không dẫn ra một bài thơ nào trọn vẹn. Tôi e nhận xét của Hoài Thanh, Hoài Chân quá vội, khác với ấn tượng khá rõ nét của tôi và có lẽ cũng của nhiều người khác về thơ Trần Huyền Trân.

Nhưng ta cũng nên khách quan mà thể tình cho hai tác giả khi hai ông mới chỉ chạm mặt thơ Trần Huyền Trân qua những bài thơ lẻ in trên báo Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thông bán nguyệt san... chưa in thành tập vào năm khép lại cuốn Thi nhân Việt Nam 1941 khi nhà thơ họ Trần mới 28 tuổi. Còn tập Thơ Trần Huyền Trân tuyển tập (NXB Văn học, 2001) tôi đang có là thơ tuyển của cả cuộc đời ông. Tuyển tập xếp bài trước sau theo đúng thứ tự ngày ra đời của chúng, gồm 99 bài. Vậy là hai ông Hoài Thanh, Hoài Chân chỉ có thể đọc của Trần Huyền Trân những bài từ năm 1940 trở về trước: 24/99 bài.

Người cuối cùng trào lưu Thơ Mới và mở đầu tiếng thơ kháng chiến   1
 Nhà thơ Trần Huyền Trân. Tranh: Bùi Xuân Phái.

Trần Huyền Trân thuộc thi phái "áo bào gốc liễu" gồm 3 thi nhân đồng điệu: Thâm Tâm, Nguyễn Bính và ông.

Thật tiếc là Hoài Thanh – Hoài Chân đã không kịp nghiên cứu kỹ nhà thơ này, cũng bởi lẽ Trần Huyền Trân không xuất lộ sớm hơn.

Tuy ông là người đến sau với trào lưu Thơ Mới, nhưng tôi cảm thấy ông đã khai thác được nhiều đặc điểm thơ mới và đẩy chúng đến tận cùng ưu thế mà chúng có được.

Các nhà thơ thời ấy thường hay viết về rượu để quên, để nén nỗi đau đời. Nhưng hình như tôi chưa thấy nhà thơ nào thế hệ ông vượt qua được mấy câu thơ cảm khái về rượu này của Trần Huyền Trân:

Cụ hâm rượu nữa đi thôi/Be này chừng sắp cạn rồi còn đâu/ Rồi lên ta uống với nhau/Rót đau lòng ấy vào đau lòng này.

(Uống rượu với Tản Đà)

Cái đau lòng ấy rót vào nhau không phải chỉ là sự cộng hưởng của hai cá thể, mà còn như nhân rộng mãi tới chúng ta, về những năm tháng ấy! Đó phải chăng là sự đồng cảm tột cùng cái đau chung một thời nô lệ!

Chất giang hồ lãng tử cũng tạo một không gian thơ khá rộng cho thơ mới, nhóm "áo bào gốc liễu" của thi sĩ họ Trần (cùng Thâm Tâm, Nguyễn Bính) lại càng sở trường hơn với hơi thơ cảm khái, ngang tàng này:

Đời nghèo đấy chiếu, đây chăn/Bút khôn làm kiếm chém phăng bất bình.

(Say ca, tặng Thâm Tâm, Nguyễn Bính)

Xem vậy, thơ Trần Huyền Trân không hiền lành chút nào, ông là con người hành động. Ông không tiễn người đi, mà chính ông ra đi. Ông ra đi và ông dặn lại Lê Văn Trương:

Thôi thế anh về yên xóm cỏ/ Xứ nghèo đã cỗi gốc yêu thương/ Nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió/ Cho đống xương đời được nở hương.

Ông gieo một loạt vần bằng tạo một âm điệu chơi vơi khác lạ ở giữa bài: Thôi thế về đi – Tôi đi đây/ Cây nào có gió không thèm lay?/ Chim nào có cánh không thèm bay?/ Lòng nào có máu không thèm say?

Thi phái của ông chủ trương khôi phục phong vị cổ thi ở những thể "ca", thể "hành" để dễ nói chí của mình. Những câu thơ trên đã tạo được không khí đó. Khi làm thơ tình, thơ về thiên nhiên, những từ Hán Nôm, Hán Việt lại làm sang cho cảnh vật thiên nhiên, làm sang cho những mối tình nghèo. Từ thủ pháp đó, ta thấy tài hoa và tâm hồn nhà thơ càng được phát tiết, bay cao...

Bài thơ Thu của Trần Huyền Trân là một bài thơ tình nhẹ nhàng 4 câu, miêu tả cảnh chia tay một cách thật tinh tế: "kẻ ở, người đi", một bức tranh thủy mặc, một vật nhỏ xinh mà hoàn mỹ, sang trọng, thấm đẫm phong vị thơ Đường: Mưa bay trắng lá rau tần/ Thuyền ai bốc khói xa dần bến mưa/ Có người về khép song thưa/ Để rêu ngõ trúc tương tư lá vàng.

Trước Cách mạng Tháng Tám, ông cho in đến 8 tập tiểu thuyết và truyện ngắn, gần hai chục vở chèo vừa biên kịch vừa đạo diễn, trong khi thơ thì không in tập nào, ta thấy ngay ông sống bằng hoạt động sân khấu, bằng làm báo, in văn xuôi... Thơ chẳng qua để thù tiếp bạn bè, ký thác những tâm sự, chí lớn chưa thành của mình. Nhưng chính vì thơ không nuôi được thể xác nhà thơ nên thơ càng là thứ nuôi tâm hồn thi sĩ, bộc lộ trực diện tâm hồn ông, cũng là thú "chơi sang" không tốn kém của kẻ hàn sĩ...

Bài Độc hành ca viết năm 1940, là bài cuối của 24 bài đó, không rõ Hoài Thanh – Hoài Chân có kịp đọc? Bài ca gần 100 câu thơ mà không ít những câu đầy bức xúc: Chiều nay nhấp chén lên môi/ Không dưng tưởng nhấp máu người tanh tanh/ Khóc nhau ném chén tan tành/ Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ!

GS. Hoàng Như Mai từng nhận định: Độc hành ca của thi sĩ Trần Huyền Trân là một tuyên ngôn của thế hệ văn nghệ lãng mạn tuyên bố cáo chung cho một thời kỳ sáng tác và khởi đầu một thời kỳ sáng tác khác!

Chính từ những tố chất ngoan cường lúc thì ghìm nén bức xúc, lúc được bung ra sảng khoái đã tạo nên một Trần Huyền Trân giai đoạn tiền Cách mạng mà ông tham gia Mặt trận Việt minh và Hội Văn hóa cứu quốc từ năm 1943. Ông đã viết về nạn đói năm Ất Dậu, có những câu thơ chấm phá cái thảm cảnh ghê gớm năm đó:

Đàn ông sót lại bao tên/ Chôn người để đợi người đem chôn mình.

(Những người chưa chết)

Chính từ những cảm xúc bi tráng tích lũy trong Độc hành ca, khi nghe tiếng súng kẻ xâm lược gây hấn ở Hải Phòng và của quân dân ta chống giặc, ông đã cho nổ bùng bài thơ hào sảng như một bài hịch Hải Phòng 19/11/1946, mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm: Cây đổ hiện lên chiến sĩ/ Gạch vụn hiện lên anh hùng/ Cả quán Bà Mau, cả Cánh Gà, cả Hạ Lý/ Cả những gái Pháp kêu đồ đĩ/ Cả những trai Nhật gọi lưu manh/ Cả những anh "bấu sấu, voi xanh"/ Nửa đêm nay dao tày gậy bẩy/ Đi băm nát thời nô lệ ấy...

Ông không còn "độc hành" nữa, ông đã lên đường cùng cả dân tộc!

Vân Long

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT