Người của làng nổi, làng chìm

Xã hội
“Thả câu thơ, vượt sông sâu/Mang tình con chữ tìm nhau cuối bờ” - Đó là những cung bậc trong thơ của nhà thơ Thanh Hào, bãi giữa sông Hồng như một khối lòng đa sầu,

Thả câu thơ, vượt sông sâu/Mang tình con chữ tìm nhau cuối bờ” - Đó là những cung bậc trong thơ của nhà thơ Thanh Hào, bãi  giữa sông Hồng như một khối lòng đa sầu, đa cảm, bởi cuộc đời ông đã được và mất quá nhiều thứ trên phù sa đất bãi... Cho đến bây giờ, tuy không sinh sống trên bãi bồi nữa nhưng trong làng văn Việt Nam, khi nhắc đến Thanh Hào, người ta nhớ đến phù sa bãi giữa sông Hồng và ngược lại...

Bồi lở nỗi đau!

Vài lần tôi nhận tin xấu về nhà thơ Thanh Hào - là dịp cuối năm 2009, khi ông đem bản thảo cho các báo đã đặt bài cho báo Tết trong khu vực Hà Nội về, ông bị tai biến mạch máu não, đột quỵ, tưởng không qua khỏi, nhưng rồi cũng qua. Vào những ngày cuối năm 2010 này, ông bạn làm báo ở gần nhà ông bên làng Khế - Bắc Biên lại báo tin xấu, ông ốm nặng lắm, lại có những tin xấu hơn… làm tôi thắt lòng. Tôi sang thăm ông ở làng Bắc Biên dịp cuối tuần rồi, ông vẫn nằm liệt, sức khỏe yếu, bạn văn, bạn thơ ai cũng buồn...

Nhưng buồn nhất là những nông dân bãi giữa sông Hồng, bởi họ không còn được thấy ông ra bãi bồi thăm nom, vãn cảnh nữa, cái hình ảnh nhà thơ nổi tiếng ấy không đến bãi bồi cứ như mất đi nguồn sinh khí. Bởi vì trước ngày ông bị đột quỵ, cứ đúng quy luật, cuối tuần, người ta thấy ông già râu tóc bạc phơ, dáng thanh tao, rắn rỏi lội bộ từ trên cầu Long Biên xuống đất bãi. Có bận, ông còn đem giấy bút ra bần thần với mây trời, bóng nước, cỏ cây, rồi ông viết. Lại có bận, cả đám các em học sinh tiểu học quấn lấy chân ông, bắt ông đọc thơ cho các cháu nghe đến quên đi trời đang chuyển mình tôi tối trên đất bồi phì nhiêu. “Ông tiên” của thiếu nhi ấy chính là nhà thơ, nhà văn Thanh Hào. Ông sinh ra vào ngày 3/3/1931, tại bãi giữa sông Hồng. Ở cái tuổi bên kia con dốc cuộc đời này, nhà thơ Thanh Hào bảo rằng ông đang thấy mình trẻ ngược lại với thời gian, càng già, càng gần với trẻ thơ hơn. Cũng dễ hiểu, ông cũng muốn mình gần gũi trẻ thơ, những mầm xanh tương lai của đất nước, để từ đó bồi dưỡng tâm hồn thơ cho các em và biết đâu đó cũng là một hình thức truyền nghề thơ của một “cao nhân đắc đạo”, hiếm có trên đời. Tôi tìm ông không chỉ riêng bởi nỗi niềm riêng của ông với bãi giữa mà ông còn là nhà viết sử làng về bãi giữa duy nhất ở Việt Nam, vì nhắc tới Thanh Hào, người ta nhớ đến Làng bãi và ngược lại.

Riêng phần nhà thơ Thanh Hào, hơn ai hết, đã để lại đó nhiều kỷ niệm máu thịt. Sau giải phóng thủ đô, Thanh Hào làm lão nông chi điền thực sự, vui thú điền viên, làm ruộng với vợ con và làm thơ. Quang cảnh quanh nhà ông toàn chuối hoa và cây cối xanh um cả bãi giữa. Nơi này thu hút rất nhiều các nhà văn, nhà thơ như nhà thơ Nam Bộ Hoàng Tố Quyên hai tay hai nạng xuống thăm ông, rồi Quang Dũng đã đề thơ lên vách, lần lượt đến Hoàng Cầm, Trần Lê Văn, Băng Sơn, Nguyên Hà, Vân Long... đều tìm đến đây vui thú vườn tược và an hưởng cái sự chân chất của thôn dã giữa Hà thành. Bạn bè đến thăm, Thanh Hào cười thật hiền, ung dung thư thái đãi rượu và ngâm nga câu thơ mới sáng tác trên chính đất bồi: “Thả câu thơ, vượt sông sâu/Mang tình con chữ tìm nhau cuối bờ...”. Sinh ra ở sông, lớn lên ở đất bồi nên bài thơ nào cũng mang hơi thở của địa lý và mùi sa khoáng, cái tinh khiết nhất của trời đất giao hoà, nơi bãi bồi nổi chìm theo tính khí dòng sông, vì sông nước nên trăn trở đến “Cầm lòng, sống với niềm tin - mặc cho bèo nổi, mấy chìm trôi qua”. Tưởng rằng cuộc sống của nhà thơ và gia đình êm ấm vĩnh cửu nhưng hỡi ôi, cái thanh bình ấy chỉ tìm được trong một số bài thơ thôi. Vì phần đời còn lại, Thanh Hào mất mát quá, đau khổ quá, cái đau về con tim yêu tha thiết một mảnh đất phù sa cũng như những gì về máu mủ đã mất đi không lấy lại được.

Đó là vào tháng 12/1972, giặc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, dội bom B52 xuống Hà Nội. Nhà thơ kể lại: Đêm ấy, ông đang đứng bên cây cau giữa vườn nhìn vào phố, từ phía trung tâm thành phố, những chớp sáng của bom tàn phá đầy hãi hùng. Bỗng “ục” một tiếng! - Như một trận động đất, ông thấy mình bị nâng bổng lên, hai tay chỉ kịp ôm đầu thì cũng là lúc đất bay vù vù đánh bật người ông lên. Căn nhà gỗ lợp lá ba gian trong chốc lát biến mất dưới đống đổ nát. Ông nghe thấy tiếng vợ kêu gào trong đống đổ nát, hai bố con (thằng Tùng - con cả) dùng bàn tay trần bới đất đến tứa máu tìm vợ và ba đứa con. Nhưng khi moi được tất cả lên thì hai cô con gái đã chết. Ông đau buồn. Bản thân ông sau này bị điếc một bên tai từ lúc đó. Quả bom không những đem lại cho gia đình Thanh Hào mà cả làng nổi, làng chìm nỗi đau ứa máu, đến giờ người ta chưa quên nỗi đau đó.

Sau nỗi mất mát quá lớn, cũng như có một phép lạ, vợ ông và cậu con không thương tổn nhiều về mặt thể xác. Nhưng kỳ lạ hơn còn có một cây mai vàng bị đất vùi 15 ngày mà không chết. Tìm hiểu ra thì biết cây mai nhờ cây rui nhà che cho nên trong lòng đất chết ấy, nó vẫn nở hoa li ti, âm ỉ dưới lòng đất chui lên, thật là khác thường. Sau này, nhà thơ Vân Long nói: “Cao Bá Quát cúi đầu trước hoa mai, nhưng chưa biết đến phẩm chất này”. Trước nỗi mất mát lớn tưởng chừng như Thanh Hào khó vực dậy thì bạn bè lại đến chia sẻ cùng ông. Để đỡ ám ảnh, ông biến cái hố bom quái ác thành cái ao vuông thả xuống vài dây rau muống cho nguôi ngoai đi phần bi kịch, rồi rau muống sinh sôi ra ngàn dây đầy ắp ao.

Năm sau, khi chưa nguôi nỗi đau mất con thì tai hoạ lại ập đến. Đêm ngủ, nghe “ục” một tiếng sâu trầm như sụt đất, bãi giữa mất cả mảng, cuốn theo vài căn nhà bị nuốt chửng trong dòng nước xoáy đục ngầu. Và hôm sau, nhà ông cũng trôi mất. Mất trắng. Ông và bà con di dời sang làng Bắc Biên cho đến bây giờ. Tính khí con sông lở bồi theo quy luật tự nhiên. Nhưng nỗi đau là lại mất đi mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình.

Với những biến cố đau đớn từ bãi giữa, ông đã khủng hoảng quá lớn, không làm được thơ nữa. Bạn bè lại giúp đỡ, vực ông dậy. Lần này, ông ôm là nỗi da diết nhớ con thơ đã bỏ mạng nơi bãi giữa nên ông viết rất nhiều về tuổi măng non và cũng không ai trong làng văn thành công hơn ông ở những đề tài thơ cho thiếu nhi này. Nhà xuất  bản Kim Đồng đã xuất bản tập Bóng mây (1979), rồi nhiều tập khác, có cả truyện ngắn, bút ký - phóng sự, bài nào cũng dành  tình cảm cho thiếu nhi, nhiều nhất như “Ước gì em hoá thành mây, che cho lưng mẹ suốt ngày bóng râm” (Bóng mây) hay “Tiếng trống trường em; vào năm học mới.... Tùng.... Tùng...Tùng”, tiếng trống trường em đã đi vào lòng bao lớp độc giả và để lại ấn tượng sâu sắc, đó phải chăng là nỗi ám ảnh ở ông.

 Nhà thơ Thanh Hào (ảnh do gia đình nhà thơ cung cấp).

Làng nổi, làng chìm

Trong số bút ký - tuỳ bút ông viết về bãi giữa mang đậm nỗi nhớ nhung mảnh đất gắn với cha ông và máu thịt của mình, vì thế vẫn còn nguyên hình ảnh: “... Thuyền cứ luồn lách theo những con đường cắt khoảng trống bờ rào đã ngập, thuyền nối tình người nhà nọ đến nhà kia không còn theo lối đi mùa cạn. Mọi ranh giới bờ cõi đều bị xoá chìm”. Hay sự trăn trở về bãi giữa vẫn còn âm ỉ về  “... Nơi mũi đất thầm lặng, thi gan với dòng nước chia đôi. Nơi chia đôi vầng trăng cho hai nẻo sông vàng. Nơi tiếng vạc canh khuya cũng vỡ làm đôi, để hai dòng nước mang về cuối sông thành hai tiếng - thở - dài” (Ngã ba sông Đuống).

Bây giờ, sự đổi dời của thời thế, cuộc sống thanh bình đi lên, trẻ em trong phố và cả người lớn nữa, làm sao chứng kiến được cảnh này. Mà cũng lạ, chỉ vài bước chân thôi là bãi giữa lộ nguyên hình trước mắt. Nơi đã một thời “những con cá chép lao hẳn mình lên mặt nước, khoe cái thân hình đồ sộ như cái quạt nan vàng choé với những cặp vây và bờ đuôi đỏ chói. Chúng tập trung ở cửa ngoài chờ nhau...  Tôi nằm úp đè lên cá. Con cá cũng mệt, cựa quậy dưới bụng tôi. Trứng nó chảy ra dính đầy quần áo. Trên đầu, trên cổ, trên má tôi đều dính trứng cá nhèm nhẹp” (Làng nổi, làng chìm - bút ký). Đấy là những gì ông “sinh tử” với nó, mùa cá đẻ, mùa cà cuống trên bãi giữa, cái “làng nổi, làng chìm” trong quá khứ ấy uốn lượn xung quanh thành phố là nỗi nhớ mong vĩnh cửu mất rồi. Nên cứ cuối tuần, ông lại ra bãi giữa để nhìn - ngắm và chiêm nghiệm cho mình, cũng như để làm thơ cho thiếu nhi - cho đời, bắt đầu cũng từ đất phù sa bãi bồi là thế đấy.

Nhưng giờ đây, khi nằm bất động, không còn đủ sức rảo bước thong dong trên đất bồi phù sa được nữa thì ông lại đau đáu một nhớ mong hoài niệm. Nhất là những ngày tháng 12 sắp đến, là dịp ngày giỗ của 2 đứa con ông thì nỗi đau đáu lại khơi dậy nhiều hơn. Và ở bãi giữa sông Hồng vẫn còn ghi dấu một ông già nông dân trong cổ tích của trẻ nhỏ - nhà thơ Thanh Hào. Không những thế, những người nông dân một nắng hai sương trên đất bồi, nhiều dân Hà thành, khách du lịch trong và ngoài nước đi “dã ngoại trong nội thành” ngay trên bến sông Hồng cùng chung một nỗi nhớ về ông và bãi bồi vẫn còn đây màu mỡ “phù sa lấp bóng một khung hồng” (Quang Dũng). Vẫn nhớ ngô đồng, vườn hoa như “một tấm thảm thêu hoa” dành cho những con người nặng lòng với đất bãi giữa vẫn nổi vẫn chìm theo tính khí của dòng sông, có khi cướp trắng mùa màng của họ. Nhưng họ vẫn vui, cấy cày vụ mùa mới với khí thế hơn thế, vì một vụ sau thắng lợi, vì độ phì nhiêu của bãi bồi vẫn cần bàn tay người lao động, cần khối óc của các văn  sĩ dựng đất bồi thành bất hủ. Tất cả họ, những con người nhọc lòng với đất bồi, dù hữu danh hay vô danh đều là “anh hùng” nơi đất bãi. Mà trong số đó không ít là bạn thơ, bạn văn của nhà thơ bãi giữa Thanh Hào. Bởi họ tìm đến với đất bồi bãi giữa, vì bởi ở đó có một Thanh Hào tài hoa đau khổ với hương đất phù sa.

Văn Thành


Ý kiến của bạn