Hữu Ngọc (HN): Ông vốn là một giáo viên dạy địa lý trường trung học, ông có thể cho biết tại sao ông mê nhiếp ảnh đến thế? Tôi xin hỏi một câu ngớ ngẩn: Có phải do địa lý mà ông mê nhiếp ảnh không?
Frydman (F): Không, câu hỏi của ông không ngớ ngẩn đâu, mà đánh trúng tâm can tôi. Địa lý và nhiếp ảnh giúp tôi mở rộng “cái tôi”, vì tôi là một kẻ cô đơn, suốt đời cô đơn. Ở phương Tây, điều này không có gì lạ!
HN: Chả lẽ là ngay từ nhỏ?
F: Đúng vậy, cô đơn từ nhỏ. Tôi sinh vào tháng 11/1945 ở Paris, vào lúc Thế chiến II vừa kết thúc được mấy tháng, tình hình hậu chiến nhiễu nhương. Cho đến nay, tôi không biết mặt cha. Mẹ tôi là người Do Thái gốc Ba Lan, cả gia đình bị bắt đi trại giam quốc xã Đức Auschwitz và bị giết ở đó. Một mình bà trốn thoát, sống lén lút ở một căn buồng 3 thước vuông, sống bằng nghề làm ảnh. Tôi vừa ra đời là mẹ gửi một bà vú nuôi cho đến khi lớn ở tỉnh nhỏ Menton tít phía Nam. Tôi không được biết tình mẹ con, vì bà lấy chồng khác, ít gặp tôi, chỉ gửi tiền qua vú nuôi. Cũng may, khi học xong trung học, tôi tự lập và theo Trường đại học Sorbonne ở Paris, tốt nghiệp cử nhân địa lý. Tôi đi dạy học, có lúc làm tổng giám thị nhà trường, sau chuyển sang làm cố vấn giáo dục của trường.
HN: Nhiệm vụ cố vấn giáo dục là gì, thưa ông?
F: Ở trường, có những học sinh có hành động bất thường hoặc có thầy cô phàn nàn về tính tình một học sinh nào đó thì cố vấn phải tìm hiểu về mọi mặt: học sinh, thầy cô, gia đình để có biện pháp giải quyết.
HN: Ông mới về hưu được mấy năm. Trong công việc và gia đình riêng, ông vẫn cảm thấy cô đơn sao?
F: Công việc thì tàm tạm nhưng gia đình riêng thì thất bại.
HN: Tại sao ông lại chọn học môn địa lý?
F: Có lẽ từ trong tiềm thức, đó là cách thoát ly khỏi nỗi cô đơn. Ngay từ lúc trẻ, tôi rất thích những bản đồ đã giúp tôi đi du lịch bằng tưởng tượng, đi tìm bí ẩn những chân trời xa. Rồi sau có điều kiện thì đi du lịch thực sự.
HN: Thế vì sao ông mê nhiếp ảnh đến thế?
![]() |
F:
Mẹ tôi làm ảnh kiếm sống. Từ nhỏ, tôi đã bị hấp dẫn bởi sự tinh xảo của máy ảnh. Vào tuổi thiếu niên, tôi đã chơi ảnh. Tôi chụp lại các bức tranh cổ của các danh họa, làm một số phóng sự ảnh về đời thường. Môn học địa lý làm tôi càng khám phá ra cái đẹp của thế giới, sự sắp đặt tuyệt vời của cảnh vật. Nhất là những nét sinh động của cuộc sống. Một cử chỉ thoáng qua của con người đều có nguồn gốc sâu xa trong tiềm thức. Làm thế nào ống kính chụp được cái đẹp và cái ý nghĩa của khoảnh khắc. Đó là điều làm tôi mê nhiếp ảnh. Nhưng cú “sốc” nhiếp ảnh đối với tôi là từ khi phát hiện ra các nhà nhiếp ảnh Mỹ đã tố cáo những bất công xã hội về mọi mặt và hướng kỹ thuật nhiếp ảnh vào cái đẹp nội tâm. Đặc biệt, nhà nhiếp ảnh Pháp Bresson mà tôi coi là sư phụ.
HN:Tôi được biết ông Henri Cartier Bresson mất cách đây 6 năm, thọ 95 tuổi, để lại cái tên viết tắt là HC-B được nhiều người biết. Phải chăng ông là nghệ sĩ nhiếp ảnh Pháp đi tiên phong trong phong trào gắn nhiếp ảnh báo chí với nhiếp ảnh nghệ thuật. Nếu tôi nhớ không nhầm: Bresson nổi tiếng vì đưa ra khái niệm “khoảnh khắc quyết định” (instant décisitip) trong nhiếp ảnh?
F: Đúng vậy. Bresson chiếm một vị trí đặc biệt trong phóng sự ảnh về sinh hoạt đường phố, những cảnh sinh hoạt hàng ngày vừa có cái đẹp ngoạn mục vừa mang ý nghĩa tâm lý và xã hội sâu sắc. Ông trở thành một nhân vật huyền thoại của nhiếp ảnh thế kỷ 20. Tuổi thọ khiến cho ông có cái nhìn nhân chứng đối với những sự kiện lớn của thời đại. Tôi chịu ảnh hưởng rất nhiều về cái nhìn vừa mỹ thuật, vừa kỹ thuật, vừa con người của ông trong khi tôi đi tìm cái đẹp qua ống kính ở Việt Nam, tình yêu của tôi.
HN: Ông “phải lòng” Việt Nam từ bao giờ?
F: Từ buổi đầu tiên bước chân đến đất Việt của ông, Việt Nam là mảnh đất mà nghệ thuật nhiếp ảnh của tôi có thể phát triển tốt nhất. Đồng bằng sông Hồng hấp dẫn tôi vô cùng vì rõ ràng bàn tay con người đã nhân hoá thiên nhiên tạo ra một quang cảnh mà trong đó quá khứ xa xưa đan xen với những cảnh “vị lai chủ nghĩa”. Đối với tôi, đó là một đề tài nhiếp ảnh lôi cuốn, có thể thỏa mãn ước vọng của tôi là chụp những bức ảnh vừa đẹp vừa mang ý nghĩa sâu sắc.
HN: Còn đề tài gì nữa ở Việt Nam hấp dẫn ông?
F: Phụ nữ! Phụ nữ Việt Nam có nét đẹp riêng, thể hiện một nghị lực thầm kín, dẻo dai. Rất khó nắm bắt được cái duyên thầm của phụ nữ Việt Nam, nó thể hiện một tính cách “hiến dâng tinh thần”, riêng chiếc áo dài, vừa trang trọng vừa giản dị chưa đủ thể hiện. Phải bắt được cái duyên đó trong một giây phút bất thần, trong một cử động nhẹ nhàng. Có lần, tôi được xem lễ bốc mộ. Tảng sáng, khi trời còn tối, người ta rửa xương bằng nước thơm, xếp lại từng mảnh vào tiểu. Không ai nói gì, nghi lễ đơn giản, lặng lẽ. Vì tôi được gia đình chấp thuận nên tôi cứ việc chụp, không ai để ý. Tôi cũng rất thích chụp cuộc sống hàng ngày ở Việt Nam để nắm bắt được cái thần của dân tộc.
HN: Nghe nói ông đã tích lũy được một vốn ảnh khá lớn về Việt Nam?
F: Năm 2000 và 2003, tôi phụ trách dẫn học sinh Pháp sang giao lưu với học sinh Trường Chu Văn An. Từ năm 2006 - 2010, hằng năm, tôi sang Việt Nam ở 1 - 2 tháng để thực hiện những dự án về các đề tài định chụp. Mới đầu, công việc khó khăn vì các thủ tục hành chính, nay đã dễ hơn nhiều vì đặt được nhiều quan hệ bạn bè. Tôi đã có dịp trưng bày nhiều ảnh về Việt Nam với nhiều đề tài và tôi đã chuẩn bị xong một số album chuyên đề để xuất bản: Hồ Bảy Mẫu, Cầu Long Biên, Phủ Thành Chương…
HN: Tôi đã được xem sách ảnh Cuộc sống của cầu Long Biêncủa ông, có lẽ nó điển hình cho phong cách nhiếp ảnh của ông: phát hiện cái đẹp có ý nghĩa nhân văn, bề sâu của cuộc sống hàng ngày trên một địa điểm bình thường. Đối lập giữa kỹ thuật sắt thép lạnh lùng với cuộc sống tình người (quang cảnh quanh cầu, người đi lại trên cầu, cái vui cái buồn của người qua lại).
F: Trong đầu tôi còn nhiều dự án về các đề tài để chụp. Tôi sẽ còn trở lại Việt Nam, tuy đã phải bán cả du thuyền để có tiền đi lại chụp ảnh.
HN: Theo tục lệ Việt Nam, chúc ông sang năm mới “phát tài”, thực hiện được nhiều dự án và nhất là cho xuất bản được vài cuốn sách ảnh có giá trị!
Nhà văn hóaHữu Ngọc
