Nếu không có cuộc gặp gỡ bác sĩ Đặng Thanh Minh - Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Bắc Giang thì tôi không biết gì về ngôi nhà trầm lặng ấy ngoài hình ảnh về một tấm biển trong khu phố chợ ồn ào. Đó là một ngôi nhà khiêm nhường khép mình sau những tán lá, lặng lẽ nằm hướng ra "khu ẩm thực" bên hồ. Mọi sự ở đó đều tĩnh lặng đến không ngờ. Trong khi từ sáng đến tối, "cái khúc cua" chẽ ba này hầu như lúc nào cũng đông nghịt người ăn uống, bán mua. Cạnh đấy lại là Bệnh viện đa khoa thành phố cũng tấp nập người vào ra...
Ấn tượng đầu tiên của tôi khi gặp ông là sự giản dị, nhẹ nhàng, cởi mở. Qua cuộc trò chuyện với ông tôi mới vỡ lẽ, hóa ra, Y tế dự phòng không chỉ quan tâm đến các dịch bệnh truyền nhiễm hay suy dinh dưỡng, mà còn liên quan trực tiếp đến các bệnh mạn tính như tim mạch, viêm khớp xương, đái tháo đường, cao huyết áp, tai biến, loãng xương, ung thư... Y tế dự phòng quan niệm rằng sự phát sinh các bệnh mạn tính là hệ quả của một quá trình tích lũy những rối loạn chức năng sinh lí qua phơi nhiễm các yếu tố nguy cơ. Do đó, làm y tế dự phòng cũng không phải đơn thuần là việc dập tắt các dịch bệnh truyền nhiễm, mà phải làm giảm thiểu các nguy cơ mắc bệnh ở quy mô cộng đồng, kể cả các bệnh truyền nhiễm hay mạn tính. Vậy mà, trong mắt của nhiều người, công tác y tế dự phòng chỉ là phòng chống các dịch bệnh (?!).
Phương tiện thông tin đại chúng vẫn thường xuyên đưa tin về thực trạng các bệnh lây lan nguy hiểm như tiêu chảy cấp do tả, cúm gia cầm, các bệnh về đường hô hấp, SARS... Và người dân vẫn mang trong mình tâm lý "nếu có bệnh thì đi bác sĩ chữa" chứ ít người khi đang khoẻ mạnh lại nghĩ đến những cán bộ y bác sĩ ở các trung tâm y tế dự phòng để giúp người ta giảm bớt nguy cơ mắc bệnh như thế nào. Họ phổ biến rộng rãi về các bệnh truyền nhiễm và cách phòng tránh bệnh tật cho người dân đồng thời âm thầm khống chế dịch bệnh. Công việc của họ trầm lặng và vất vả mà có mấy ai biết được.
Không biết do đặc thù công việc đã tạo nên tính cách con người hay bản chất vốn vậy mà Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Bắc Giang Đặng Thanh Minh - người đã có bề dày và đóng góp không nhỏ cho ngành y tế, đã tỏ ra rất ngần ngại khi tôi đề nghị được viết về ông. Ông bảo: "Đó toàn là những việc phải làm. Nhiều người còn làm tốt hơn tôi rất nhiều". Và ông gợi ý tôi chọn chân dung người khác mà ông thấy là có nhiều thành tích hơn. Sau một hồi "nói khó" ông mới tiết lộ cho tôi một chút thông tin gọi là...
Bác sĩ Đặng Thanh Minh. |
Sinh năm 1960 tại thành phố Bắc Giang trong một gia đình đông anh em, từ nhỏ, cậu bé Minh đã sớm xác định cho mình con đường đi lên bằng cách học tập. Khi mới tốt nghiệp phổ thông, người thanh niên mới mười tám tuổi hăm hở nhập ngũ. Sau 3 năm đóng quân ở biên giới phía Bắc, người lính trẻ được học tại Học viện Quân y với tâm nguyện bằng kiến thức của mình sẽ giúp ích được cho nhiều người bệnh, nhất là những người nghèo khó. Tốt nghiệp đại học, bác sĩ Đặng Thanh Minh được điều về công tác tại Bộ Tư lệnh đặc công, sau đó chuyển ngành về làm chuyên viên tại Sở Y tế Hà Bắc. Đó là quãng thời gian đáng nhớ của ông. Được phân công phụ trách mảng phòng chống dịch bệnh của toàn tỉnh - một công việc khá nặng đối với một cán bộ trẻ. Khi đó, giao thông đi lại khó khăn, cán bộ y tế phải chủ động về các vùng sâu vùng xa trong tỉnh để tuyên truyền, giúp đỡ bà con chống đỡ với bệnh tật. Là người con trai sinh ra và lớn lên tại thành phố, giờ phải đạp xe tòng tọc đi về các bản làng xa xôi và nằm vùng ở đó vài ngày đến hàng tuần là một việc cũng không hề đơn giản. Có những đêm mưa, giá rét, ông vẫn cùng đồng nghiệp đi xử lý các vụ dịch, ngộ độc, nhiều hôm xong việc, nhìn đồng hồ đã hai - ba giờ sáng, bụng đói, người rét mà không tìm được cái gì ăn, đành nhịn đói quay về... Khó khăn, vất vả nhưng ông vẫn gắng vượt qua.
Năm 2000, ông được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Nghiệp vụ y, năm 2006, khi Sở Y tế Bắc Giang thành lập Phòng Y tế dự phòng, ông lại được cấp trên tin tưởng giao làm Trưởng phòng. Gần hai mươi năm làm chuyên viên của Sở Y tế, dấu chân của ông đã in trên biết bao nẻo đường ở các làng quê, thôn bản của tỉnh để mang đến cho người dân những kiến thức phòng chống bệnh tật, hướng dẫn họ thực hiện nếp sống vệ sinh, khoa học, chăm chút cho họ từng mũi tiêm phòng, góp phần đẩy lùi dịch bệnh cho những miền quê nghèo khó. Nhưng với ông, vất vả mà vui vì làm được nhiều việc có ích cho mọi người.
Là một trong những người đầu tiên của Sở Y tế tham gia xây dựng và triển khai các hoạt động phòng chống HIV/AIDS của tỉnh nên ông phải thường xuyên đi tiếp xúc với người nghiện ma túy, mại dâm để tuyên truyền, thành lập những nhóm giáo dục đồng đẳng. Khi tỉnh được tái lập, ông lại tham gia khôi phục, duy trì hoạt động của mạng lưới chuyên khoa da liễu. Sau này, Trạm da liễu được thành lập và bây giờ chuyển thành Khoa da liễu của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh. Ông vẫn đùa: "Mình chẳng được học chuyên khoa về da liễu nhưng hình như lại có duyên với chuyên khoa này thì phải...".
Được phân công theo dõi công tác nghiên cứu khoa học của ngành, bản thân ông cũng từng làm chủ nhiệm một đề tài cấp tỉnh, nhiều đề tài cấp cơ sở và tham gia khá nhiều đề tài với các đồng nghiệp khác. Ông có vẻ hài hước khi nhắc tới việc tham gia nghiên cứu cải tiến nồi áp suất thành nồi hấp bơm kim tiêm cho chương trình tiêm chủng mở rộng. Lúc ấy, vì thiếu thốn quá nên phải làm vậy, nhưng cũng là một việc hữu ích và đáng nhớ của một thời khó khăn. Điều khiến ông thấy mừng nhất là trong những năm ấy, hoạt động nghiên cứu khoa học của ngành đã có bước phát triển rõ nét. Là thư ký của Ban quân dân y tỉnh trong nhiều năm nên ông tham gia hầu hết các cuộc diễn tập ở các cấp, cả làm người tập và làm đạo diễn, tham gia biên soạn cuốn "Địa lý y tế quân sự" đầu tiên của tỉnh, miệt mài xây dựng các kế hoạch đảm bảo y tế cho thời chiến...
Với nhiệm vụ được phân công, ông đã tham mưu cho lãnh đạo về công tác chỉ đạo, quản lý chuyên môn nhiều lĩnh vực có kết quả như: Tiêm chủng; phòng chống sốt rét, phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em; an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống HIV/AIDS, chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng... kể cả công tác quản lý hành nghề y tế tư nhân. Xây dựng và triển khai các kế hoạch, chương trình, dự án về chuyên môn y tế của tỉnh như: Kế hoạch xây dựng chuẩn quốc gia y tế xã; Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng; Dự án giảm tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ sơ sinh; Đề án xã hội hóa hoạt động y tế...
Nói đến những việc mà bác sĩ Minh đã làm được trong quá trình công tác thì rất nhiều nhưng ông tâm đắc nhất là việc xây dựng chuẩn quốc gia về y tế xã. Bởi qua quá trình công tác, ông đã nhận thấy rằng dù kinh tế phát triển khá nhanh chóng, tỉnh Bắc Giang không còn xếp vào nhóm các tỉnh nghèo khó nữa, nhưng tình hình y tế và sức khỏe người dân ở tỉnh vẫn ở trong tình trạng của một địa phương nghèo. Thực trạng về dịch bệnh trong thời gian gần đây là những nhắc nhở rằng Bắc Giang vẫn còn đang đương đầu với những bệnh nhiệt đới, những vấn nạn của các nước nghèo. Trong tình hình như thế, hơn lúc nào hết, cần một mạng lưới y tế cộng đồng tốt để phòng bệnh từ cấp cơ sở. Bởi muốn xây nhà cho vững thì phải có nền móng cho chắc; muốn có một nền y tế quốc gia hữu hiệu thì phải bắt đầu bằng hệ thống y tế cơ sở tốt. Ông đã tham mưu xây dựng và triển khai thực hiện chuẩn Quốc gia về y tế xã của tỉnh đạt kết quả cao. Đến khi ông được điều động sang làm Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh (năm 2008) thì số xã trong tỉnh đạt chuẩn Quốc gia về y tế theo quy định của Bộ Y tế đã được gần 80%, trong đó 100% số xã của huyện Lạng Giang đạt chuẩn. Mỗi lần thấy một xã đạt chuẩn, có trạm y tế khang trang thì ông mừng lắm, vì lúc đó chưa có kinh phí hỗ trợ từ Trung ương, tất cả đều trông vào sự hỗ trợ của tỉnh và sự vận động của các địa phương nên rất khó khăn.
Đảm nhận vai trò Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, chức vụ cao hơn đồng nghĩa với trách nhiệm lớn hơn, bác sĩ Minh vẫn luôn ý thức được điều đó nên ông luôn cố gắng tìm hiểu, học tập kinh nghiệm của đồng nghiệp và những người đi trước về chuyên môn cũng như công tác quản lý, phấn đấu vươn lên, gương mẫu trong các hoạt động, động viên tập thể cán bộ, viên chức của đơn vị khắc phục khó khăn để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Ông nói vui: "Hoá ra làm cái anh giám đốc phức tạp hơn cái anh Trưởng phòng trước kia nhiều. Phải lo đủ thứ, nhưng có lẽ mình đã may mắn khi được về một đơn vị có truyền thống, anh em rất đoàn kết, phần lớn là anh em trẻ nên rất khí thế. Vừa rồi hội diễn của ngành, đến một nửa cơ quan lên sân khấu và "ẵm" ngay giải Nhất". Nói đến đó, mắt ông ánh lên niềm vui.
Khi về nhận nhiệm vụ, trung tâm vừa đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba. Điều đó khiến ông nhiều đêm mất ngủ để nghĩ xem làm thế nào để giữ vững và phát huy được truyền thống ấy. Và ông đã bắt đầu từ việc hoà mình với anh em, tạo một không khí, môi trường làm việc thuận lợi hơn cho mọi người. Khi có sự hiểu biết, đồng thuận rồi, ông dần dần đưa ra những ý tưởng để cả cơ quan cùng thảo luận. Ông bảo, có những việc tự mình không thể nghĩ ra được mà nhờ mỗi người một ý kiến và nhờ có sự chỉ đạo, ủng hộ của cấp trên nên mới có được kết quả như ngày hôm nay. Năm 2009, tỉnh đầu tư ít kinh phí, đơn vị họp bàn xác định phải đầu tư mũi nhọn, nên bây giờ đã có sự đổi mới, nâng cấp đáng kể. Nhiều kỹ thuật mới đã được triển khai, có những kỹ thuật đã vượt một số tỉnh bạn, như kỹ thuật xét nghiệm một số kim loại nặng bằng máy quang phổ hấp thụ nguyên tử, kỹ thuật chẩn đoán sớm một số bệnh bằng máy xét nghiệm miễn dịch tự động... Phương tiện y học hiện đại đang dần được kiện toàn. Đó là cơ hội để nâng cao và mở rộng năng lực hoạt động chuyên môn của trung tâm.
Qua kinh nghiệm gần hai mươi năm công tác, ông nhận rõ một điều rằng, đối tượng của các cơ sở y tế truyền thống là cá nhân người bệnh, còn đối tượng của y tế dự phòng là cộng đồng. Y tế dự phòng quan tâm đến nguy cơ mắc bệnh của một quần thể (và nguy cơ này có thể dao động từ thấp, trung bình đến cao). Do đó, chỉ số để đánh giá hiệu quả lâm sàng của các bệnh viện là sự thành công trong việc cứu một bệnh nhân, nhưng chỉ số lâm sàng của y tế dự phòng là giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh của một cộng đồng và kéo dài tuổi thọ cho một dân số. Ông đã đặt trọng tâm vào việc phòng bệnh nhưng chỉ đạo hoạt động với phương châm "phòng bệnh là chính, chữa bệnh là chủ yếu". Bất kỳ đêm hay ngày, khi có dịch hoặc ngộ độc thực phẩm là các cán bộ của Trung tâm Y tế dự phòng phải lên đường làm nhiệm vụ ngay. Mấy năm nay, nhiều dịch bệnh mới luôn đe dọa như cúm A/H5N1, cúm A/H1N1, một số dịch bệnh nguy hiểm cũ quay trở lại như tả, sốt xuất huyết, viêm não... Ngộ độc thực phẩm cũng hay xảy ra nên cán bộ y tế dự phòng khá vất vả. Nhưng nhờ triển khai tốt các biện pháp phòng chống dịch chủ động, khi có các ca bệnh nguy cơ gây dịch đều được phát hiện và xử lý kịp thời, do vậy cũng hạn chế được rất nhiều. Đặc biệt năm 2008, cơn bão số 6 gây lũ lụt nhiều huyện, nhưng do làm tốt công tác vệ sinh, tẩy uế môi trường, xử lý nguồn nước nên dịch bệnh đã không xảy ra, trong khi một số tỉnh bạn sau lũ lụt đều có dịch bệnh. Kết quả này được Bộ Y tế đánh giá rất cao. Đại dịch cúm A/H1N1 năm 2009, ông cũng tham mưu cho Sở nhiều biện pháp xử lý chính xác, hiệu quả ngay tại cộng đồng nên cũng hạn chế được hậu quả, không gây hoang mang và ảnh hưởng nhiều đến kinh tế, xã hội như một số tỉnh bạn. Mấy ca tả xâm nhập vào địa bàn năm 2008 cũng đã được xử lý triệt để, không để lây lan thành dịch hoặc tạo thành ổ dịch lưu hành. Nhiều vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra trên địa bàn nhưng đều được xử lý sớm nên không để xảy ra tử vong, năm 2009 có đến 80% các vụ ngộ độc thực phẩm tìm được nguyên nhân, đây là sự tiến bộ rất rõ nhờ phát triển được kỹ thuật và tổ chức phòng, chống hiệu quả hơn.
Ông nói nhiều, nói kỹ về lĩnh vực chuyên môn, nhưng khi được hỏi về các thành tích và khen thưởng của cá nhân thì ông chỉ... cười. Ông không muốn nói ra, nhưng tôi biết, nhiều năm liền ông đều được Bộ Y tế, UBND tỉnh tặng bằng khen và đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Điều đó đã chứng tỏ cảm nhận đầu tiên của tôi khi gặp ông đã đúng. Ông là một người hết sức điềm đạm, khảng khái và khiêm tốn. Ông còn là một người giám đốc hết sức giản dị, dễ gần. Trong suốt thời gian ngồi trò chuyện với ông, tôi không thấy ông có chút câu nệ nào. Dường như chất lính vẫn còn đậm đặc trong ông.
Ông bảo: "Nếu không có sự ủng hộ của tất cả các anh em trong cơ quan thì tôi không thể làm được gì cả, chứ nói gì đến thành tích". Quả là tập thể Trung tâm Y tế dự phòng đã được tặng Bằng khen và cờ thi đua của Bộ Y tế, UBND tỉnh và Liên đoàn Lao động tỉnh. "Nhưng một cơ quan nếu không có người lãnh đạo tốt thì có thể vững mạnh được không?" - tôi hỏi. Ông cười, lảng: "Khi làm báo cáo thì chỉ cần một câu: Không để xảy ra dịch bệnh, giảm tỷ lệ tử vong do mắc bệnh. Nhưng để làm được điều ấy thì phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt. Làm công tác dự phòng rất khó, chỉ cần một sai sót nhỏ, thậm chí một phát ngôn thiếu chính xác là sẽ làm thiệt hại kinh tế rất lớn, thậm chí ảnh hưởng đến cả an ninh - xã hội. Vì vậy, áp lực rất nặng nề. Có lẽ chẳng ai biết được điều ấy". Rồi giọng ông buồn buồn: "Công việc vất vả mà thầm lặng lại không có thu nhập thêm nên nhiều y bác sĩ muốn chuyển sang bệnh viện. Bởi vậy điều mà tôi trăn trở nhất, đó là làm thế nào để có thêm thu nhập cho anh em, có thế thì mới thu hút được nguồn nhân lực y tế dự phòng, anh em mới yên tâm và có tâm huyết để cống hiến...".
Tôi hiểu những băn khoăn, trăn trở của ông. Quả thật, từ trước đến nay, người bác sĩ thành công một ca giải phẫu chắc chắn sẽ được báo chí nhắc đến như là một anh hùng, nhưng những người tổ chức thực hiện thành công một chiến lược y tế dự phòng vẫn chỉ là những người "trầm lặng" ít ai để ý đến!
Có lẽ, đã đến lúc xã hội phải ghi nhận đầy đủ đóng góp âm thầm của những người làm y tế dự phòng. Và ông cũng là một trong số họ, một bác sĩ "trầm lặng" đang từng bước cố gắng để tìm giải pháp thực hiện những điều mà mình đang ấp ủ. Bước đầu ông đã làm được. Và chắc chắn ông sẽ không chỉ dừng lại ở cái bước đầu ấy...