Ngược Cao Sơn mù sương

08-03-2010 08:10 | Xã hội
google news

Vùng Cao Sơn là tên gọi chung cả ba bản Son - Bá - Mười ở xã Lũng Cao, huyện miền núi Bá Thước (Thanh Hóa).

Vùng Cao Sơn là tên gọi chung cả ba bản Son - Bá - Mười ở xã Lũng Cao, huyện miền núi Bá Thước (Thanh Hóa). Nằm chênh vênh bên dãy đại ngàn Pù Luông, Cao Sơn có độ cao gần 1.200m so với mực nước biển. Nơi đây có những năm vào giữa mùa đông, nước đóng thành băng như mảnh kính, sáng ngủ dậy thấy trắng cả ruộng, suối, khe ngưng đọng. Cỏ cây, hoa lá, rau màu cứ thế héo quắt, rũ dần mà chết.

 Bà con ở Cao Sơn chỉ có cách đi bộ thôi!

Ngược triền dốc đứng

Chuyến công tác cuối năm, mấy anh em nhà báo trẻ hăng hái rủ nhau lên thăm Cao Sơn. Dù đã sắp xếp thật khoa học về thời gian, hành lý nhưng khi chúng tôi đến được UBND xã Lũng Cao, mặt trời cũng đã nhô lên khỏi đỉnh Pù Luông hơn hai cây sào. Nhìn thấy đoàn nhà báo trẻ, trong đó lại có cả một nữ ký giả sốt sắng muốn lên Cao Sơn, anh Hà Văn Minh, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Lũng Cao nhận làm người dẫn đường cười, nói đùa: Cô bạn trẻ này mà lên Cao Sơn là phải cố gắng để xuống đấy nhé! “Ô hay, lên còn không lo thì ngại gì lúc xuống?”, anh bạn đồng nghiệp từ Hà Nội về buông một câu nghi ngờ. “Kệ, em cũng cứ đi!”, cô đồng nghiệp nữ cả quyết. Tôi hỏi anh Minh, từ đây lên Cao Sơn độ bao xa? Anh dí dỏm: "Gần thôi nhà báo à, tôi chưa đo là bao nhiêu cây số nhưng ước chừng bảy đến tám "quăng dao" thôi mà". Lúc đầu, cuộc hành trình của đoàn có vẻ như bình thường vì đang ở mức thoai thoải chân núi. Càng lên cao, lối mòn quanh co càng như treo ngược trên triền dốc khiến chúng tôi phải bám vào những cành cây để bò lên. Có những chỗ chỉ vừa đặt bàn chân, nếu không cẩn thận sẽ dễ dàng lăn xuống vực sâu lúc nào không hay...

Càng lên, cái rét ở độ cao gần 1.000m so với mực nước biển càng khiến ai nấy cảm thấy ớn lạnh. Chao ôi, rừng ở đây còn nhiều cây cổ thụ quá! Anh bạn đồng nghiệp tôi thốt lên rồi chọn một gốc cây lát cổ thụ dang tay ôm lấy nó để chụp tấm hình làm kỷ niệm. Có những cây lim, cây lát, cây sến hàng trăm năm tuổi, đường kính chừng ba, bốn người ôm không xuể, cao hàng chục mét đứng chênh vênh, nghễu nghện ngay cạnh lối đi. Khi vượt qua đỉnh Pha Hé và đỉnh Pha Chiến, lúc này trong ba lô anh Minh chỉ còn lại 2 chai nước khoáng, mọi người không ai dám uống nhiều mà phải dành dụm. Đói, mỏi và khát, chúng tôi lấy bánh, mì tôm sống ra chia nhau nhai ngấu nghiến. Mấy anh em trong đoàn (trừ Minh ra) chẳng muốn leo thêm bước nào nữa mà chỉ ước có một chỗ bằng phẳng để ngả lưng, duỗi chân. Riêng anh Minh thì luôn miệng tươi cười, động viên anh em cố gắng. Anh bảo, nghỉ ít thôi, cố lên, sắp đến eo Mù Mao rồi. Qua eo Mù Mao chừng 1 giờ nữa là đến được đầu bản Son thôi!

Trên đường đi, chúng tôi gặp một đội công nhân giao thông đang đánh mốc chuẩn bị dự án làm con đường này. Sau này, con đường sẽ nối trung tâm xã Lũng Cao lên Son - Bá - Mười. Dù rằng nếu con đường ấy được mở ra là tạo thuận lợi cho việc giao lưu giữa đồng bào ở đỉnh Cao Sơn với bên ngoài, tuy nhiên, nếu ai đã từng "cuốc bộ" lên Cao Sơn như chúng tôi cũng sẽ nhìn nhận được một điều rằng, để mở được đường, chắc chắn những cánh rừng nguyên sinh, tái sinh này sẽ có hàng chục, hàng trăm ha bị xoá sổ, rồi những cây lim, cây lát, cây sến... trăm năm tuổi kia sẽ trôi về đâu? Liệu chính quyền địa phương có dám chắc rừng sẽ không xảy ra điều "đường thông thì rừng thoáng" không?... Những suy nghĩ ấy cứ theo tôi lên đến tận Cao Sơn.

 "Phương tiện" vận chuyển tốt nhưng khó chăm sóc.

Vùng “nhiều không”

Đêm ở Cao Sơn, gió rít từng hồi sàn sạt. Cái lạnh như cắt da khiến tôi không tài nào chợp mắt dù đã cố quấn cho mình chiếc chăn bông như con tằm nằm trong kén. Gió từ các đỉnh núi ùa xuống, vần vũ trên mái nhà, đập chan chát vào cửa sổ, luồn qua khe nhà sàn vào quấn lấy người. Thấy tôi cựa mình "độc thoại" trong chăn, Trưởng bản Ngân Văn Đức hỏi: "Nhà báo không ngủ được à? Nếu chưa ngủ thì dậy ngồi bếp một lúc cho ấm. Hôm nay, trời thế này vẫn chưa rét lắm đâu". Tôi chui khỏi "tổ kén" của mình và ra ngồi bên bếp lửa với Trưởng bản Đức. Thấy khách co ro vì rét, Đức tỏ vẻ thông cảm rồi rót một cốc nước chè Tán ma nóng hổi mời tôi uống và bảo, thời tiết trên này khắc nghiệt vậy đấy. Có năm, vào giữa mùa đông, nước đóng thành băng như mảnh kính, sáng ngủ dậy thấy trắng cả ruộng, suối, khe ngưng đọng. Cỏ cây, hoa lá, rau màu cứ thế héo quắt, rũ dần mà chết.

Có lẽ, mọi cái khó ở vùng đất này cũng xuất phát từ sự cách trở, tách biệt với bên ngoài. Theo Trưởng bản Đức cho hay: Những năm 90 trở về trước, bản có 47 hộ, 285 khẩu thì 100% thuộc diện nghèo khổ, mỗi năm thiếu đói hàng  3 - 4 tháng. Do thời tiết khắc nghiệt, mỗi năm người dân chỉ trồng được một vụ lúa, một vụ ngô, còn cây sắn thì hai năm mới cho thu hoạch củ. Cây sắn ở đây còi cọc chỉ bằng ngón chân cái, cao ngang ngực, củ sắn to bằng quả chuối tiêu. Sau khi thu hoạch lúa, người ta không tuốt hạt ra mà để cả bông đem gác lên xà nhà, phòng lúc ốm đau hay khi giáp hạt, còn gạo ăn hằng ngày bà con phải gùi ngô sang mấy bản bên Hòa Bình để đổi. Tôi hỏi đùa Trưởng bản Đức: Ở đây, ta có thể gọi là vùng mấy không?, Đức cười, bảo: "Thì nhà báo cũng thấy rồi đó, ở đây có thể gọi là vùng "nhiều không" đấy nhà báo à! Này nhé, không điện, không đường, không chợ, không xe máy và không điện thoại". Rồi Đức nói tiếp, ở trên này nhà nào cũng lo nhất là có người ốm đau bệnh tật, có những người bệnh nặng chưa khiêng đến bệnh viện đã chết. Nghe Trưởng bản Đức nhắc đến vấn đề y tế, chăm sóc sức khỏe cho người dân, tôi lại nhớ hồi đầu tháng 3/2006, ở vùng này người ta cũng đã triển khai một dự án trồng cây dược liệu. Nguồn vốn chính của dự án ấy là của Bộ KH-CN và vốn phát triển khoa học của tỉnh đầu tư để trồng 15ha cây dược liệu trên đất lâm nghiệp. Các loại cây dược liệu của dự án gồm: bạch chỉ, bạch truật, ba kích, thanh hao hoa vàng - các loại cây được xem là rất thích hợp với khí hậu lạnh quanh năm ở vùng này. Tổng số vốn đầu tư cho dự án này là 1,9 tỷ đồng, được thực hiện trong 2 năm 2006 và 2007. Thế nhưng, đến nay khi chúng tôi lên Cao Sơn thì rặt chỉ thấy gia đình nào cũng trồng cây su su, còn cây dược liệu chẳng thấy đâu. Còn nữa, dự án đưa điện lưới quốc gia về Cao Sơn cũng đã được đưa ra bàn bạc, nhưng cuối cùng vẫn chỉ là bàn bạc vậy thôi. Cả ba bản chưa hề có một chiếc xe máy nào, đơn giản vì làm gì có đường để đi. Phương tiện duy nhất xem ra hữu dụng là ngựa thồ, chỉ có điều bà con không nuôi nổi cái giống "chí tình" đó vì khó chăm hơn con trâu, con bò. Thế nên, tất cả vẫn dựa vào sức người là chính. Nếu muốn mua hàng hóa thì cuốc bộ sang Hòa Bình.

 Nghỉ chân giữa đường lên Son - Bá - Mười.

Càng về khuya, gió thổi càng mạnh, vài tấm ván thưng của căn nhà sàn bị gió quật cho lung lay. Nhìn ra ngoài trời, tôi chỉ thấy một màn sương trắng mờ, dày đặc. Thi thoảng, trên phía góc rừng có tiếng kêu của loài thú đi ăn đêm nghe rợn cả người. Thấy tôi có vẻ thấm mệt, Ngân Văn Đức bảo tôi tranh thủ đi nằm để mai lấy sức mà đi bộ. Đúng là mệt rã người nhưng tôi cố nghe Trưởng bản Đức bày tỏ hết nỗi băn khoăn của anh. Tôi hỏi: Chế độ của trưởng bản hiện nay mỗi tháng anh được hưởng nhiều không?. Như chạm phải lòng tự ái, Ngân Văn Đức nhìn tôi cười mà bảo: "Ôi dào! Mỗi tháng được trợ cấp 190.000 đồng. Nhiều lần, em đi vận động người khác làm hộ mà chẳng ai nhận cho. Bác tưởng làm trưởng bản ở trên này mà sướng hả? Nhiều lần em khốn khổ vì giải thích cho bà con hiểu về các khoản tiền chính sách. Mệt lắm, không biết các bác ở xã giải quyết như thế nào mà đến thời điểm này nhiều hộ dân trong bản vẫn chưa nhận được tiền hỗ trợ làm nhà 134; cả bản không được cấp muối iốt, còn dầu thắp sáng thì cấp trên có chủ trương cấp về từ năm 2007, nhưng mãi đến cuối năm 2009 bà con mới được nhận tiền lần đầu, mỗi hộ được 96.000 đồng; rồi tiền hỗ trợ học sinh theo Quyết định 112 của Chính phủ nữa, người ta đã triển khai từ mấy năm nay nhưng học sinh từ lớp 1 đến lớp 9 ở đây mới được nhận duy nhất 1 lần...” Ngồi nghe Đức bày tỏ những băn khoăn xong thì tiếng gà rừng đã gáy ở phía trên đồi, anh giục giã tôi đi ngủ. Chui trở lại chiếc chăn bông nặng trịch, tôi lịm dần vào giấc ngủ mơ màng...

Tiếng gọi của đồng nghiệp khiến tôi choàng tỉnh. Bữa sáng đã được vợ Đức chuẩn bị sẵn. Món "thiên hương" (chuột rừng) nướng thơm lừng và chén rượu ngô khiến ai nấy đều cảm thấy lâng lâng. Chúng tôi rời bản khi màn sương bắt đầu loãng dần ra. Ven rừng, những bông hoa đào, hoa mận bắt đầu chúm chím, như thể chuẩn bị đua nhau khoe sắc trong ánh nắng xuân. Trên đường xuống núi, tôi nhớ tới đôi bàn tay thô ráp của Ngân Văn Đức nắm chặt tay tôi ở đầu bản như cố níu chân khách ở lại. Và tôi thầm hỏi: Xuân này, ai ngược Cao Sơn? 

Phóng sự của Thế Anh


Ý kiến của bạn