Ngọc dịch và nhân nhũ

Văn hóa – Giải trí
Đã từ lâu, trên biển hiệu của các tiệm thuốc Tây, hình con rắn thè lưỡi đã hiển hiện như thị phạm về một cách chữa bệnh. Nhưng mãi tới năm con rắn này tôi mới để tâm tìm hiểu liệu pháp… thè lưỡi kia.

Đã từ lâu, trên biển hiệu của các tiệm thuốc Tây, hình con rắn thè lưỡi đã hiển hiện như  thị phạm về một cách chữa bệnh. Nhưng mãi tới năm con rắn này tôi mới để tâm tìm hiểu liệu pháp… thè lưỡi kia.

Nếu một lần nào đó, một người  bạn từ những con đường bụi mù phố thị mà tìm đến bạn với một hạt bụi trong mắt, xin bạn đừng ngại, cứ đối mặt nhau rồi dùng đầu lưỡi của mình mà dò trong tròng mắt bạn, tìm cho ra hạt bụi kia. Bài sơ cứu theo kinh nghiệm lang vườn ấy như một liệu pháp tinh thần nhưng lại có đủ cơ sở vật chất của nó, có độ ấm của nước miếng (nước bọt) kháng sinh và độ mềm mại của cái lưỡi y cụ sống đang thoa kháng sinh tự bào chế. Cái đầu lưỡi mẫn cán chẳng những lần tìm một cách cơ học mà còn rất sinh học, đưa vào hiện trường đang tìm kiếm một vị thuốc mà Đông y gọi là ngọc dịch.

Với chỉ một vài ca chính mình đã được thực hành như thế tôi nào dám suy ra, rằng thì là những người yêu nhau đã mang sự ngọt ngào của các nụ hôn, với cái lưỡi mềm mại kia vào công việc y tế cộng đồng. Nhưng rồi đọc thơ tình, tôi thấy suy diễn của mình là hợp lý vì chính nữ thi sĩ lớn Elisaveta Bagriana người Bungary nổi tiếng có viết: Cuộc đời năm tháng đã dạy em/ Và em đã quen/ Chịu khổ một mình/ Như con thú bị thương/ Náu trong hang kín/ Một mình liếm vết đau.

Cái bài sơ cứu “một mình liếm vết đau” mà thiếu nữ thất tình trong bài đưa ra như một “tiểu phẫu thuật” bằng cái lưỡi y cụ sống, khiến tôi nhớ lại một y cụ sống khác.

Vào những năm 50 của thế kỷ trước, Hà Nội mới giải phóng và tôi còn là cậu bé lớp một, học Trường tư thục Minh Tâm gần ngõ chợ Khâm Thiên. Hồi ấy, sau những căn nhà mặt tiền phía bên trái, theo hướng Ô Chợ Dừa lên, phố Khâm Thiên còn mênh mông ao hồ. Mẹ tôi mới mất vì băng huyết mà không có thuốc cầm máu, bố tôi lại thua kiện về đất đai, phải bỏ nhà phố Hàng Trống dẫn bày con đàn bảy đứa về sống trong khu ao hồ ấy, chuyển từ chế độ tắm nước máy sang tắm nước ao tù và tôi bị... toét mắt, bị đau mắt đỏ, nói theo cách bây giờ. Đau đến mức có sáng thức dậy hai mí của mỗi tròng mắt bị nhử (ghèn) đóng làm một, phải lấy khăn nóng mà gỡ thì mới mở được mắt ra. Đau tới có đêm nhức nhối không ngủ được, khóc như trẻ khóc dạ đề khiến một thiếu phụ hàng xóm tôi vẫn gọi là chị phải động lòng chạy sang, mở ngực nở mà nhỏ sữa mẹ vào mắt tôi. Sữa ấy thật là thuốc tiên, xoa mát tức thì đôi mắt đang nóng như hai hòn than và cảm nhận mát mẻ kia tôi còn giữ được cho tới bây giờ, khi cúi đầu bạc mà viết bài báo xuân này. Sau này đọc sách Đông y mới biết, sữa người có tên thuốc là nhân nhũ dùng thanh hàn, giải nhiệt, bổ âm... Nhân nhũ và ngọc dịch đều từ con người ta mà ra và đều là thuốc ta, đều là đông dược cả đấy, cho nên người viết bài này nhân hứng xuân xin được nói rằng, đông dược cũng là nhân dược! Sống trong những cơ thể sống, thuốc ta lúc nào cũng tươi! Là thuốc lấy ra từ những thang đang sống. Và dù biết đó là suy luận chủ quan của kẻ ngoại đạo y khoa, tôi vẫn cứ tìm thêm minh chứng cho lập luận của mình.

Tôi tìm thấy trong lịch sử chiến tranh cách mạng, những quân y sĩ dám truyền nước dừa tươi vào cơ thể thương binh của mình như truyền huyết thanh vô trùng. Đã liều cùng ông thầy áo lính nào đó, nhưng có liều đến mấy mà không có những chiến binh dũng cảm dám cho truyền vào huyết mạch của mình thứ huyết thanh chưng cất từ cây xanh đứng thẳng và kết trái trên đất lửa chiến tranh thì bài thuốc kia đã chẳng có chỗ trong y văn thời đánh giặc. Và cái anh lính vô danh nào đó dám vén tay áo chiến để bộc lộ tĩnh mạch của mình, thì nào có thua kém gì võ tướng Quan Vân Trường về lòng can đảm, khi ông tốt râu này, cởi giáp trụ, ngồi đánh cờ để thầy Hoa Đà róc thịt, tìm xương hư mà đắp thuốc tươi lá vườn.

 Thật ra, trong các ngăn thuốc Nam thuốc Bắc của các lương y, phần lớn các vị thuốc đã được phơi khô, mất đi vẻ tươi vốn có của các thảo dược! Và khi ấy chính các lương y hay chữ lại làm cho thuốc tươi lại bằng các thang văn (mà những lương y hay chữ thì nhờ trời, Đông y Việt Nam ta đã có Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác vừa bốc thuốc vừa viết Thương kinh ký sự, lại có thầy Đồ Chiểu đã soạn rất minh triết sách thuốc Ngư Tiều vấn đáp y thuật, lại kể rất sinh động chuyện tình Lục Vân Tiên…). Một trong những thang văn hay là thang nước mắt khóc chồng của Bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương đã làm tươi lại những khô héo nhăn nhúm chẳng đặng đừng của cam thảo, quế chi, thạch nhũ, trần bì, quy thân, liên nhục...

 Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo/Cay đắng chàng ơi vị quế chi/Thạch nhũ, trần bì sao để lại/Quy thân, liên nhục tẩm mang đi…

 Cứ thiếp thiếp chàng chàng, đủ âm dương như thế vẻ tươi nhân dược đã tươi hơn mà thành tình dược để rồi ngọc dịch được trao qua các nụ hôn mà thành nhân nhũ nuôi sống muôn đời vẻ tươi của mỗi chúng ta! Để cứu rỗi chúng ta, chẳng cần đến thứ  thuộc tam xà, ngũ xà… có được khi “Những con rắn được thủy táng trong rượu/Linh hồn chúng bò quanh miệng bình cuộn khoanh đáy chén” (Nguyễn Quang Thiều) không thân thiện với môi trường chút nào.

   Xuân 2013

Trần Quốc Toàn


Ý kiến của bạn